Năm ngoái vác ba lô lên Tây Nguyên ngay đúng mùa mưa. Mùi
hoang vu, rừng rú, ngai ngái cỏ cây, nồng mùi phân dê, ngựa ám cả vào
những cơn mưa dai dẳng. Hoa dại nở khá nhiều dọc theo đường
QL27 đoạn từ Liên Khương đi Đắk Lắk mưa như vùi xuống. Chẳng có chỗ mà
núp, dốc cheo leo, mưa mờ con đường đất đỏ, tàn cây ngả nghiêng, roi
trời quất vào mặt rát buốt, rét đánh răng lập cập mà lo
ngay ngáy ngã nước đường rừng.
Về được tới Đạ K’ Nàng - Đam Rông thì trời tối, mọi thứ sũng nước,
duy có cái máy ảnh hiệu Nikon F-401s cà tàng được gói cẩn thận mấy lần
bọc nilong thì còn “y nguyên”. Bạn cuống quýt nấu
nước lá xông rồi xoa người bằng thứ rượu ngâm rễ cây rừng giải cảm.
Thế mà đêm cơn sốt vẫn kéo về hầm hập, vòm cây nghiêng ngã xoắn nghiêng
nghiến, đầu óc rầm rập tiếng vó ngựa phi nước đại ám ảnh
trong mưa. Không rõ là nằm im lìm như thế bao nhiêu giờ, chỉ biết thấy
mình như đi qua trảng rừng trơ trụi, lùm cây lấp xấp mọc nham nhở rồi
lại đến khu rừng nguyên sinh vẫn còn nguyên đám rêu xanh
trên vỏ cây cổ thụ, tiếng khỉ léo xéo, tiếng gầm của chúa rừng, tiếng
suối róc rách cùng làn nước chảy qua cơ thể trinh nguyên của sơn nữ rồi
suối quặn thắt, suối chết, thôn Đạ Mun run rẩy…. Khi
tỉnh dậy chẳng biết là ngày hay đêm, chỉ thấy ập vào mắt ánh lửa bập
bùng, ánh sáng đỏ hắt từ dốc núi. Khuôn mặt mừng rỡ của vợ chồng anh bạn
như áp sát mặt thì thầm: “Ngã nước Tây Nguyên một lần
không dám lên lần sau nhá!”. Mệt. Đuối hơi nhưng vẫn cười khì: “Sợ gì
ngã nước, chỉ sợ ông bà thấy phiền tống khứ người vùng biển này ra khỏi
rừng thôi”. Chén cháo gạo rang cháy húp được đôi muỗng,
người đã tứa mồ hôi nhẹ nhõm. Người phụ nữ miền sơn cước đôi mắt to
trong như buổi sáng nhìn từ đỉnh núi, hơi thở nồng cỏ cây, làn da cháy
màu mùa hạ lại xoa lên cơ thể tôi thứ rượu ngâm rễ cây.
Lại ngủ, nhưng là giấc ngủ êm đềm trong tiếng lép bép của củi chưa
thật khô, tứa khói cay cay.
|
|
Gian nan đường đến trường
|
Mấy ngày sau thì lại sức, có lẽ vì những nồi cháo nấu với gà ác cùng
lá ngải cứu đã cho một đứa “nắng không ưa, mưa không chịu” mỏng lét như
tàu lá chuối mập lên trông thấy. Những ai từng ở Tây
Nguyên mùa mưa mới biết mưa rừng ác liệt như thế nào. Có lúc muốn bứng
nguyên căn nhà gỗ của bạn tôi quẳng đi nơi khác. Nước từ núi đổ xuống
đỏ lừ như nhuộm ánh mặt trời. Ngớt mưa, lại lội rừng vác
máy ảnh đến khu định cư thôn 1, xã Liên Sơn, Đam Rông tìm núi Hòn Nga
(1.948m) mờ xa, thăm con suối Đak R'sal chảy về phía Đak Lak rồi hợp lưu
với sông Krông Nô để xóa tan về dòng suối chết nhìn
thấy thôn Đạ Mun. Thời gian còn lại tôi nhờ bạn giới thiệu với thôn
trưởng dạy lớp học tình thương có cái tên cũng rất thương “Gạo nương”.
Huyện Đam Rông nghèo nhất tỉnh Lâm Đồng, người dân ở đây chủ yếu là
người Cill, một nhánh của dân tộc K’Ho (dân tộc K’Ho có 2 nhánh chủ yếu
là người Cill và người Lạch) và một bộ phận người M'Nông.
Chưa rõ có bao nhiêu trường lớp trên đất nước ta, nhưng tôi đồ rằng
không có lớp học nào đặc biệt như lớp học tôi dạy vào mùa mưa năm 2011.
Lớp học là cái lán đi rừng do “lâm tặc” bỏ đi được sửa
lại, bàn ghế được đóng bằng mấy tấm ván xấu bị vất đi, góc lớp là lò
than đá cùng mấy cái xoong mốc meo. Cô trò mang theo bật lửa, túm gạo,
muối, rau rừng có sẵn, nấu ăn trưa lót bụng học cả ngày.
Lớp có 7 em thì 5 lớp khác nhau. Bạn tôi kể: “Cả thôn này có mấy đứa
ra xã học thôi. Trẻ con theo người lớn lăn trên rừng trên rẫy mà sống.
Cũng có mấy thầy cô về thôn dạy một thời gian rồi cũng bỏ
đi. Tui mở lớp này dạy được cũng năm năm rồi. Có bao nhiêu chữ dạy bấy
nhiêu. Hy vọng có đứa hay chữ nên tài”.
Buổi đầu lên lớp đầy ắp xúc cảm chỉ có các em ngơ ngác nhìn cô giáo
dưới xuôi lên rừng tóc dài, guốc cao, ăngtani gọn gàng, giọng nói thánh
thót như chim rừng (ấy là cu Bưng kể lại với bạn tôi như
vậy). Thương không kể xiết khi cơn thèm chữ hiện rõ lên đôi mắt lấp
lánh của từng em. Cánh chim non đại ngàn muốn bay khỏi cánh rừng này để
đến chân trời phía sau rặng núi kia, cánh rừng nọ. Tiết
dạy khá vất vả cho từng em từng trình độ khác nhau, rất may các em đều
có thể hiểu và nói được tiếng Kinh. Cũng lao xao như bầy chim nhỏ, ríu
rít đọc bài, làm toán chộn rộn. Lại mưa, lán vặn vẹo.
Thằng bé lớn nhất thấy cô giáo so người lại cười nói: “Mưa lớn thế
không sập lán được đâu. Quen rồi thì không sợ nữa. Chỉ có cô giáo dưới
xuôi sợ mưa bỏ thôn, bỏ lớp thôi…”. Nó nhanh nhẹn chắn mấy
tấm gỗ quanh bếp thổi than đun cơm, nắm rau nhíp, tàu bay đã hái từ
sớm làm canh, có ít đậu phộng kho mặn ăn với cơm trắng. Bữa cơm ngay
trong rừng giữa mưa mới ấm áp, ngon lành làm sao, thể như
giông gió ngoài kia cứ vần vũ ghen thèm với mấy cô trò. “Sau này lớn
em thành người gác rừng cô ạ. Không cho ai phá cái rừng, phá suối của
chúng em” - thằng bé nhất lớp dõng dạc nói. Ước mơ giản dị
mà thật lớn lao, như tia nắng ấm áp bừng sáng lên sau cơn mưa rừng vừa
tan. Những cái tên khó đọc chính xác: Ngọ Văn Xá, Kon Sơ Ha Brưm, Phi
Siêng, Ha Brem… để dễ nhớ tôi đặt cho các em những cái
tên rất ngộ nghĩnh: Chim gáy, chim sẻ, lá nhíp, măng rừng… các em tỏ
vẻ rất thích thú, khi cô giáo gọi cười nhe răng sún.
Mùa mưa chưa dứt nhưng tôi phải về với biển, với học sinh đang chờ tôi
nơi ấy. Vợ chồng anh bạn cùng lũ trẻ tiễn tôi mấy đoạn đường rừng gởi
theo gùi măng khô, lá nhíp tươi. Ghé thăm Trường THCS Đạ
K’ Nàng, anh bạn hồi sinh viên Âu Văn Nghị đang làm hiệu trưởng, bạn
mắt tròn mắt dẹt ngạc nhiên như lần đầu tiên thấy “vật thể lạ”. Trách
nhẹ vài câu, rồi vồn vã cơm nước, kể chuyện nhau nghe.
Chuyện trên rừng, dưới biển thầy cô giáo đối mặt với cái khó để giữ
trẻ đến trường như thế nào. Ở Đam Rông, nhiều khi chẳng sợ đói, rét dù
đường xuống chợ xa và chiếc xe máy bán các vật dụng leo
dốc chỉ đến duy nhất một giờ cố định trong ngày nếu ra chậm cả ngày
chẳng có đồ tươi, hay mưa ròng rã mấy ngày thì rau rừng cơm trắng và
muối là thức ăn chính… Mà điều đáng sợ là sáng hôm sau lớp
học không có em nào. Dường như trẻ con trong thôn đã bị đại ngàn nuốt
chửng. Lại trèo đèo, lội suối, an ủi, tỉ tê bà con cho trẻ đến trường….
Có học sinh rồi mới có trường, có lớp, có thầy
cô.
Lại mưa, bếp lửa hồng tí tách. Giấc ngủ không ám ảnh những khu rừng
trơ khấc, dòng suối chết, dân đào vàng tứ xứ băm nát Đam Rông nữa mà chỉ
thấy đôi mắt học trò trong veo, lớp học trong lán bỏ
trống của lâm tặc và bữa cơm trong cơn mưa.
Nhớ! Nhớ! Nhớ lắm… lớp học “Gạo nương” của tôi cùng những cái học trò
nơi rừng rú mang giấc mơ được “đục đá kê cao quê hương” *.
Bút ký: NGUYỄN THỊ VIỆT HÀ
*Ý thơ của Y Phương
P/s: Bài đã sử dụng trên báo Thời Nay số 249