Ảnh Việt Hà

Ảnh Việt Hà
Ta về trồng cỏ dại đầy sân...

Thứ Tư, 29 tháng 8, 2012

Không ngọn lửa nào non tuổi...

Nàng váy ngắn, tóc dài, cổ thấp vừa đi vừa hát nho nhỏ. Con đường phía trước bình yên, dưới chân hoa cỏ li ti vô ưu nở. Chọn chiếc ghế gỗ đặt dưới tán cây, nàng ngồi xuống lặng yên nghe tiếng đàn từ khung cửa sổ màu xanh ở cuối con đường.
Đó là tiếng đàn của một cô bé mù. Tiếng dương cầm không hẳn thánh thót du dương nhưng rõ ràng được bật lên từ khát vọng. Nàng ngồi im, khẽ mỉm cười, có lần nàng đã đứng thật lâu bên khung cửa sổ để ngắm cô bé bên chiếc dương cầm màu hạt dẻ đã bong tróc nhiều chỗ, con mèo lười nằm yên dưới chân. Cô bé thực hiện bản nhạc của Chopin một cách khó nhọc. Nhưng nàng không thấy điều đó, nàng chỉ thấy sự sống thực sự mãnh liệt trong tâm hồn bé bỏng kia và trách mình đã không đủ dũng cảm để đối mặt với những khó khăn vụn vặt của cuộc sống. Ba mươi tuổi, vài mối tình, nhìn lại mới thấy cuộc đời phong phú như một bức tranh nhiều màu muôn sắc.
Mọi điều đến và đi thật đơn giản, như giọt nước lăn qua phiến lá. Chẳng ai muốn bất hạnh, nhưng nó là một phần của đời sống. Nàng mồ côi cha mẹ, nhưng không xem đó là cái cớ để trượt ngã. Trong chiều gió của mùa Đông 2000, nàng mười tám tuổi ngồi tuốt rơm bện chổi, thằng bé mười lăm tuổi ngồi bên cần mẫn bện những cọng rơm thành sợi dây dài, ấp úng nói: “Em yêu chị...”. Nàng ngỡ ngàng rồi bật cười cốc vào đầu thằng bé: “Trẻ con, biết gì yêu mà nói”. Thằng bé hơi đỏ mặt nhưng kiên quyết: “Nếu em lớn hơn, chị có yêu em không?”. Ngỡ chuyện đùa, nàng đều tay quấn chổi bằng những sợi thằng bé vừa nối và nói: “Định giống nhân vật trong bài thơ Lá diêu bông vừa học sáng nay à?”. “Không, chị trả lời em đi!”. Nàng dừng lại nhìn thằng bé, thấy nó không có vẻ gì là đùa, mắt nó ánh lên vẻ say mê kỳ lạ như có lửa, có sóng và có cả tiếng lao xao của rừng cây, nàng ghé sát mặt thằng bé nói khẽ: “Chuyện yêu, đừng đùa! Khi lớn, những người yêu nhau tự tìm đến với nhau. Em còn bé, đừng hỏi những chuyện ấy!”. Đêm. Nàng ngủ không mộng mị. Nàng chẳng thể biết, rất có thể cũng chẳng ai biết, thằng bé kia khắc vào chiếc cột to nhất nhà chiều cao của mình một vết rất sâu. Thằng bé tự nhủ, khi cao hơn vết khắc kia một đoạn dài, nó đủ lớn để yêu người con gái tóc dài đan chổi. Nhưng điều đó có quan trọng gì đâu khi lửa trong lòng đã cháy lên. Không ngọn lửa nào non tuổi!
Nàng đi. Ngôi nhà nhiều gió hướng mặt về cánh đồng được bán cho một người cùng làng. Mộ phần cha mẹ gửi lại họ hàng. Rất lâu, không ai thấy nàng về. Thằng bé vẫn đợi rồi nghe nói cũng bỏ làng lập nghiệp ở một thành phố phía Nam. Thỉnh thoảng, nàng nhớ đến ánh mắt thằng bé mười lăm tuổi nhưng rồi tất cả trôi đi nhanh tựa gió. Nàng trở thành y tá một bệnh viện lớn trong thành phố, hàng ngày khoác y phục trắng tinh sạch sẽ. Nàng có người yêu, một bác sĩ cùng bệnh viện. Anh luôn thích trật tự, khuôn khổ. Anh không chấp nhận sự cẩu thả mà chỉ thích thực hiện những phác đồ cuộc sống do mình tạo ra. Tất cả đều không thể xê dịch, kể cả những thói quen của nàng cũng buộc phải thay đổi theo phác đồ ấy. Anh không có nhu cầu hiểu người khác. Anh chỉ thích được người khác chấp nhận những nguyên tắc của mình. Nàng ngột ngạt và hoảng sợ khi có cảm giác anh đang điều trị mình. Càng cố thay đổi anh, nàng càng... bất lực.
Nàng đề nghị chia tay. Anh khẽ nhếch môi: “OK!”. Ngơ ngác, nàng không hiểu vì sao trước kia nàng có thể yêu anh đến thế. Đêm ấy mưa nhẹ. Nàng không khóc, chỉ trút tiếng thở dài. Tiếng dương cầm vụng về vọng từ phía xa khiến nàng bực mình. Nàng đi về phía những âm thanh khó chịu ấy, không xa lắm, vài mươi thước, trong khung cửa sổ có một cô bé đánh đàn. Nàng đứng đó, rất lâu, nhìn đôi tay run rẩy bấm phím và biết được rằng mình đang nghe tiếng đàn của một cô bé mù. Sự sống tồn tại mãnh liệt ngay bên trong cửa sổ kia. Nàng bỏ chạy về phòng, thấy mình bất lực và vô cùng yếu đuối. Nàng khóc để tiễn đưa một mối tình vô nghĩa.
Người đàn ông nhã nhặn, cao lớn, gương mặt đẹp ở Khoa Hóa trị ôm một người con gái còn rất trẻ, gầy gò, xám xịt và rụng hết tóc. Anh hát một tình khúc. Cô ngủ trên tay anh, hơi thở rất khó nhọc nhưng gương mặt tiều tụy ấy phảng phất nụ cười thanh thản. Nàng nghĩ, chắc không phải vì những mũi morphine nàng đã tiêm cho cô gái ấy mà chính tiếng hát trầm ấm của người đàn ông kia đã khiến những cơn đau dịu đi và giấc ngủ nhẹ nhàng kéo đến. Nàng ngồi phía bên ngoài căn phòng, một góc khuất lắng nghe tiếng hát trầm ấm phát ra rất nhỏ của người đàn ông. Đêm nào cũng vậy, anh chỉ hát bài Hoài cảm của Cung Tiến “Chiều buồn len lén tâm tư/ Mơ hồ nghe lá Thu mưa/ Dạt dào tựa những âm xưa/ Thiết tha ngân lên lời xưa”, nỗi buồn dần phủ kín tất cả, từ không gian đến tâm hồn. Đôi lúc nàng hát theo, rất khẽ, mong cho cô gái không còn bị những cơn đau hành hạ. Nhưng cô ấy đã đi, khi bài hát vừa kết thúc. Người đàn ông bấy giờ mới khóc, nức nở: “Tôi chẳng có gì ngoài tình yêu để tặng cho cô ấy cả. Chúng tôi mới lấy nhau một tháng khi biết cô ấy bị ung thư giai đoạn cuối...”. Nàng trở về nhà, mắt ướt đẫm. Anh người yêu bác sĩ đứng trước cửa đợi nàng: “Tôi nhớ em. Mình sẽ yêu lại từ đầu nhé!”. “Không - nàng nhìn anh - em không phải là bệnh nhân của anh! Tình yêu không có phác đồ”. Buông thõng đôi tay, anh quay bước ra về. Lại mưa, nàng không vội vào nhà, đưa tay ra mái hiên hứng những giọt mưa và mân mê chúng. Nàng ngửa mặt hứng mưa đêm, ranh giới mưa và nước mắt xóa nhòa... Nước mắt không rơi cho những điều đau khổ mà rơi ra bởi câu chuyện trong bệnh viện đêm nay. Cuộc đời này có gì đáng quý hơn tình yêu đâu!
Bệnh viện nhận thêm một bác sĩ trẻ, nghe nói anh ta rất đẹp và tài giỏi. Nàng hững hờ nghe các cô y tá bàn tán. Cũng chẳng có điều gì đặc biệt khi bệnh viện có hơn hai trăm y bác sĩ, người ta thậm chí còn không nhớ hết tên nhau. Đi qua phòng hóa trị, nàng dừng lại bất giác chạm tay vào góc khuất nàng vẫn ngồi nghe tiếng hát của người đàn ông nọ. Thoáng nghĩ, anh còn hát mỗi đêm? Một cái chạm vai trên lối hẹp, vị bác sĩ trẻ lúng túng xin lỗi. Nàng hơi khựng lại khi ngẩng lên bắt gặp đôi mắt của cậu bé mười lăm tuổi trên gương mặt vị bác sĩ vừa thoáng gặp. “Không sao, tại tôi không chú ý”, nàng bước nhanh và thấy mình thật khó hiểu khi có sự liên tưởng ấy. Làm sao có thể trùng hợp như thế được. Đêm, trở về nhà, nàng dừng lại bên khung cửa sổ có cô bé mù chơi dương cầm. Tiếng đàn giờ thánh thót ngân vang. Nàng hay đặt lên khung cửa sổ một đóa hoa tươi hoặc một loại quả ngon nào đó mua được trong khu chợ gần nhà. Đêm ấy, khi đặt lên khung cửa quen thuộc đóa tường vy đẫm sương, lúc quay gót, nàng nghe có tiếng gọi: “Chị ơi, em biết chị vẫn nghe em đàn mỗi tối, em cảm nhận được. Tiếng đàn của em có làm phiền chị không? Tối nay chị về trễ hơn mọi hôm, em đã đợi...”. Nàng giật mình rồi tiến lại sát phía cửa sổ, đặt tay lên tay cô bé mù dịu dàng nói: “Chị đã nghe hàng đêm. Với chị, không âm thanh nào hay hơn tiếng đàn của em đâu”. “Thật ư?”. “Thật!”. Cô bé nở nụ cười, nàng cũng mỉm cười. Trên lối về, nàng nghe hương cà phê nhẹ phất theo mùi thuốc lá, chẳng biết có ai đợi nàng trước cửa? Nàng chợt nhớ đến đôi mắt của cậu bé bện những sợi rơm, đôi mắt cháy lên những say mê của một người đàn ông trưởng thành. Lần này, ánh mắt ấy ở lại thật lâu, suốt chặng đường về nhà.
“Tôi đợi chị đã lâu!”, nàng nhận ra vị bác sĩ chạm vai hồi sáng. “Anh đợi tôi?”. “Vâng, tôi đợi chị”. “Anh biết nhà tôi ư?”. “Tôi đã biết từ năm trước”. Nàng ngạc nhiên và phân vân, im lặng nhìn vu vơ ra đường. “Còn sớm, tôi có thể vào nhà uống chén nước trà được không?”. “À, tôi vô ý quá, mời anh vào nhà...”. Họ ngồi bên nhau, cả hai nói rất ít, nhìn nhau cũng rất ít. Nàng có nhiều điều muốn hỏi về chuyện anh biết nhà nàng từ năm trước, về buổi gặp mặt đêm nay. Anh cũng có nhiều điều muốn nói, nhưng tất cả như đọng lại trong đôi mắt anh, đôi mắt mà nàng nghĩ rằng rất giống cậu bé năm xưa.
Tiễn vị bác sĩ trẻ ra cửa, họ chào nhau. Anh ngập ngừng đi, nàng ngập ngừng khép cửa, bỗng anh đứng lại: “Tôi sẽ không gọi em bằng chị. Tôi đủ lớn để biết rằng nếu không đi tìm, tình yêu sẽ không tự đến như mười hai năm trước em nói với tôi. Em có biết khi lửa trong lòng đã cháy lên thì không ngọn lửa nào non tuổi! Tôi đã tìm được em và có một điều em cần phải biết: Tôi yêu em!”.
Đêm, có gió, một chút mưa, tiếng dương cầm vụng về của cô bé mù và có cả những nụ hôn...
Nguyễn Thị Việt Hà
Truyện đã đăng ở Thế giới mới

Không ngọn lửa nào non tuổi...


       Truyện ngắn
20/08/2012 04:00:53 PM
Không ngọn lửa nào non tuổi...
Nàng váy ngắn, tóc dài, cổ tháp vừa đi vừa hát nho nhỏ. Con đường phía trước bình yên, dưới chân hoa cỏ li ti vô ưu nở. Chọn chiếc ghế gỗ đặt dưới tán cây, nàng ngồi xuống lặng yên nghe tiếng đàn từ khung cửa sổ màu xanh ở cuối con đường.
Đó là tiếng đàn của một cô bé mù. Tiếng dương cầm không hẳn thánh thót du dương nhưng rõ ràng được bật lên từ khát vọng. Nàng ngồi im, khẽ mỉm cười, có lần nàng đã đứng thật lâu bên khung cửa sổ để ngắm cô bé bên chiếc dương cầm màu hạt dẻ đã bong tróc nhiều chỗ, con mèo lười nằm yên dưới chân. Cô bé thực hiện bản nhạc của Chopin một cách khó nhọc. Nhưng nàng không thấy điều đó, nàng chỉ thấy sự sống thực sự mãnh liệt trong tâm hồn bé bỏng kia và trách mình đã không đủ dũng cảm để đối mặt với những khó khăn vụn vặt của cuộc sống. Ba mươi tuổi, vài mối tình, nhìn lại mới thấy cuộc đời phong phú như một bức tranh nhiều màu muôn sắc.
Mọi điều đến và đi thật đơn giản, như giọt nước lăn qua phiến lá. Chẳng ai muốn bất hạnh, nhưng nó là một phần của đời sống. Nàng mồ côi cha mẹ, nhưng không xem đó là cái cớ để trượt ngã. Trong chiều gió của mùa đông 2000, nàng mười tám tuổi ngồi tuốt rơm bện chổi, thằng bé mười lăm tuổi ngồi bên cần mẫn bện những cọng rơm thành sợi dây dài, ấp úng nói: “Em yêu chị...”. Nàng ngỡ ngàng rồi bật cười cốc vào đầu thằng bé: “Trẻ con, biết gì yêu mà nói”. Thằng bé hơi đỏ mặt nhưng kiên quyết: “Nếu em lớn hơn, chị có yêu em không?”. Ngỡ chuyện đùa, nàng đều tay quấn chổi bằng những sợi thằng bé vừa nối và nói: “Định giống nhân vật trong bài thơ Lá diêu bông vừa học sáng nay à?”. “Không, chị trả lời em đi!”. Nàng dừng lại nhìn thằng bé, thấy nó không có vẻ gì là đùa, mắt nó ánh lên vẻ say mê kỳ lạ như có lửa, có sóng và có cả tiếng lao xao của rừng cây, nàng ghé sát mặt thằng bé nói khẽ: “Chuyện yêu, đừng đùa! Khi lớn, những người yêu nhau tự tìm đến với nhau. Em còn bé, đừng hỏi những chuyện ấy!”. Đêm. Nàng ngủ không mộng mị. Nàng chẳng thể biết, rất có thể cũng chẳng ai biết, thằng bé kia khắc vào chiếc cột to nhất nhà chiều cao của mình một vết rất sâu. Thằng bé tự nhủ, khi cao hơn vết khắc kia một đoạn dài, nó đủ lớn để yêu người con gái tóc dài đan chổi. Nhưng điều đó có quan trọng gì đâu khi lửa trong lòng đã cháy lên. Không ngọn lửa nào non tuổi!
Nàng đi. Ngôi nhà nhiều gió hướng mặt về cánh đồng được bán cho một người cùng làng. Mộ phần cha mẹ gửi lại họ hàng. Rất lâu, không ai thấy nàng về. Thằng bé vẫn đợi rồi nghe nói cũng bỏ làng lập nghiệp ở một thành phố phía Nam. Thỉnh thoảng, nàng nhớ đến ánh mắt thằng bé mười lăm tuổi nhưng rồi tất cả trôi đi nhanh tựa gió. Nàng trở thành y tá một bệnh viện lớn trong thành phố, hàng ngày khoác y phục trắng tinh sạch sẽ. Nàng có người yêu, một bác sĩ cùng bệnh viện. Anh luôn thích trật tự, khuôn khổ. Anh không chấp nhận sự cẩu thả mà chỉ thích thực hiện những phác đồ cuộc sống do mình tạo ra. Tất cả đều không thể xê dịch, kể cả những thói quen của nàng cũng buộc phải thay đổi theo phác đồ ấy. Anh không có nhu cầu hiểu người khác. Anh chỉ thích được người khác chấp nhận những nguyên tắc của mình. Nàng ngột ngạt và hoảng sợ khi có cảm giác anh đang điều trị mình. Càng cố thay đổi anh, nàng càng... bất lực.
Nàng đề nghị chia tay. Anh khẽ nhếch môi: “OK!”. Ngơ ngác, nàng không hiểu vì sao trước kia nàng có thể yêu anh đến thế. Đêm ấy mưa nhẹ. Nàng không khóc, chỉ trút tiếng thở dài. Tiếng dương cầm vụng về vọng từ phía xa khiến nàng bực mình. Nàng đi về phía những âm thanh khó chịu ấy, không xa lắm, vài mươi thước, trong khung cửa sổ có một cô bé đánh đàn. Nàng đứng đó, rất lâu, nhìn đôi tay run rẩy bấm phím và biết được rằng mình đang nghe tiếng đàn của một cô bé mù. Sự sống tồn tại mãnh liệt ngay bên trong cửa sổ kia. Nàng bỏ chạy về phòng, thấy mình bất lực và vô cùng yếu đuối. Nàng khóc để tiễn đưa một mối tình vô nghĩa.
Người đàn ông nhã nhặn, cao lớn, gương mặt đẹp ở Khoa Hóa trị ôm một người con gái còn rất trẻ, gầy gò, xám xịt và rụng hết tóc. Anh hát một tình khúc. Cô ngủ trên tay anh, hơi thở rất khó nhọc nhưng gương mặt tiều tụy ấy phảng phất nụ cười thanh thản. Nàng nghĩ, chắc không phải vì những mũi morphine nàng đã tiêm cho cô gái ấy mà chính tiếng hát trầm ấm của người đàn ông kia đã khiến những cơn đau dịu đi và giấc ngủ nhẹ nhàng kéo đến. Nàng ngồi phía bên ngoài căn phòng, một góc khuất lắng nghe tiếng hát trầm ấm phát ra rất nhỏ của người đàn ông. Đêm nào cũng vậy, anh chỉ hát bài Hoài cảm của Cung Tiến “Chiều buồn len lén tâm tư/Mơ hồ nghe lá thu mưa/Dạt dào tựa những âm xưa/Thiết tha ngân lên lời xưa”, nỗi buồn dần phủ kín tất cả, từ không gian đến tâm hồn. Đôi lúc nàng hát theo, rất khẽ, mong cho cô gái không còn bị những cơn đau hành hạ. Nhưng cô ấy đã đi, khi bài hát vừa kết thúc. Người đàn ông bấy giờ mới khóc, nức nở: “Tôi chẳng có gì ngoài tình yêu để tặng cho cô ấy cả. Chúng tôi mới lấy nhau một tháng khi biết cô ấy bị ung thư giai đoạn cuối...”. Nàng trở về nhà, mắt ướt đẫm. Anh người yêu bác sĩ đứng trước cửa đợi nàng: “Tôi nhớ em. Mình sẽ yêu lại từ đầu nhé!”. “Không - nàng nhìn anh - em không phải là bệnh nhân của anh! Tình yêu không có phác đồ”. Buông thõng đôi tay, anh quay bước ra về. Lại mưa, nàng không vội vào nhà, đưa tay ra mái hiên hứng những giọt mưa và mân mê chúng. Nàng ngửa mặt hứng mưa đêm, ranh giới mưa và nước mắt xóa nhòa... Nước mắt không rơi cho những điều đau khổ mà rơi ra bởi câu chuyện trong bệnh viện đêm nay. Cuộc đời này có gì đáng quý hơn tình yêu đâu!
Bệnh viện nhận thêm một bác sĩ trẻ, nghe nói anh ta rất đẹp và tài giỏi. Nàng hững hờ nghe các cô y tá bàn tán. Cũng chẳng có điều gì đặc biệt khi bệnh viện có hơn hai trăm y bác sĩ, người ta thậm chí còn không nhớ hết tên nhau. Đi qua phòng hóa trị, nàng dừng lại bất giác chạm tay vào góc khuất nàng vẫn ngồi nghe tiếng hát của người đàn ông nọ. Thoáng nghĩ, anh còn hát mỗi đêm? Một cái chạm vai trên lối hẹp, vị bác sĩ trẻ lúng túng xin lỗi. Nàng hơi khựng lại khi ngẩng lên bắt gặp đôi mắt của cậu bé mười lăm tuổi trên gương mặt vị bác sĩ vừa thoáng gặp. “Không sao, tại tôi không chú ý”, nàng bước nhanh và thấy mình thật khó hiểu khi có sự liên tưởng ấy. Làm sao có thể trùng hợp như thế được. Đêm, trở về nhà, nàng dừng lại bên khung cửa sổ có cô bé mù chơi dương cầm. Tiếng đàn giờ thánh thót ngân vang. Nàng hay đặt lên khung cửa sổ một đóa hoa tươi hoặc một loại quả ngon nào đó mua được trong khu chợ gần nhà. Đêm ấy, khi đặt lên khung cửa quen thuộc đóa tường vy đẫm sương, lúc quay gót, nàng nghe có tiếng gọi: “Chị ơi, em biết chị vẫn nghe em đàn mỗi tối, em cảm nhận được. Tiếng đàn của em có làm phiền chị không? Tối nay chị về trễ hơn mọi hôm, em đã đợi...”. Nàng giật mình rồi tiến lại sát phía cửa sổ, đặt tay lên tay cô bé mù dịu dàng nói: “Chị đã nghe hàng đêm. Với chị, không âm thanh nào hay hơn tiếng đàn của em đâu”. “Thật ư?”. “Thật!”. Cô bé nở nụ cười, nàng cũng mỉm cười. Trên lối về, nàng nghe hương cà phê nhẹ phất theo mùi thuốc lá, chẳng biết có ai đợi nàng trước cửa? Nàng chợt nhớ đến đôi mắt của cậu bé bện những sợi rơm, đôi mắt cháy lên những say mê của một người đàn ông trưởng thành. Lần này, ánh mắt ấy ở lại thật lâu, suốt chặng đường về nhà.
“Tôi đợi chị đã lâu!”, nàng nhận ra vị bác sĩ chạm vai hồi sáng. “Anh đợi tôi?”. “Vâng, tôi đợi chị”. “Anh biết nhà tôi ư?”. “Tôi đã biết từ năm trước”. Nàng ngạc nhiên và phân vân, im lặng nhìn vu vơ ra đường. “Còn sớm, tôi có thể vào nhà uống chén nước trà được không?”. “À, tôi vô ý quá, mời anh vào nhà...”. Họ ngồi bên nhau, cả hai nói rất ít, nhìn nhau cũng rất ít. Nàng có nhiều điều muốn hỏi về chuyện anh biết nhà nàng từ năm trước, về buổi gặp mặt đêm nay. Anh cũng có nhiều điều muốn nói, nhưng tất cả như đọng lại trong đôi mắt anh, đôi mắt mà nàng nghĩ rằng rất giống cậu bé năm xưa.
Tiễn vị bác sĩ trẻ ra cửa, họ chào nhau. Anh ngập ngừng đi, nàng ngập ngừng khép cửa, bỗng anh đứng lại: “Tôi sẽ không gọi em bằng chị. Tôi đủ lớn để biết rằng nếu không đi tìm, tình yêu sẽ không tự đến như mười hai năm trước em nói với tôi. Em có biết khi lửa trong lòng đã cháy lên thì không ngọn lửa nào non tuổi! Tôi đã tìm được em và có một điều em cần phải biết: Tôi yêu em!”.
Đêm, có gió, một chút mưa, tiếng dương cầm vụng về của cô bé mù và có cả những nụ hôn...
Nguyễn Thị Việt Hà

Hà Nội chia chút mùa thu hoang vắng


26/08/2012 10:14  |  123 lượt xem
Bạn nhắn tin bảo mỗi độ Hà Nội thu về bạn như thấy mình lang thang tìm những bông bằng lăng còn sót lại sau mùa hè bỏng rát. Mình bảo rằng nhớ chi cái đứa khờ dại của những mùa thu năm cũ, rằng miền Nam chắng có mùa thu để mình mơ mộng, nếu có chắc chỉ là khoảnh khắc lặng lẽ của vạt nắng ngủ quên vào sáng sớm đến mãi tận ngang ngày mới bừng tỉnh rực rỡ, là cơn gió se se ghé qua vội vã trước khi mặt trời thức giấc. Bạn bảo có can chi ở Nam hay Bắc, khi thu về bạn nhớ mình hơn như cái lẽ đương nhiên và mộng mị có bao giờ phụ thuộc vào khoảng không gian địa lý cơ chứ. Cứ như nhắm mắt lại là mình đã chạm được vào nhau.
Chẳng hiểu vì sao Hà Nội lại lắm hoa bằng lăng đến thế, nhiều nhất Việt Nam thì phải. Nhưng đẹp nhất có lẽ là bằng lăng ở những con đường uốn lượn quanh hồ Gươm. Ơi, thứ hoa dịu mát, tím ngắt gieo vào nỗi nhớ rồi gim lại trong lòng mãi mãi. Ấy là câu chuyện của mùa thu 17 năm trước.  Khờ dại ghê gớm khi lúc ấy mình đinh ninh cho rằng chỉ cần nắm chặt tay nhau, nụ hôn đầu đời nhẹ phớt…thế là đã đủ tin yêu, thế là tình yêu ở lại…
Hà Nội những năm 90 của thế kỉ trước hãy còn giản dị chứ không xô bồ cong cớn như bây giờ. Mình ngồi sau xe người ấy, đi dưới những hàng bằng lăng. Đi xe đạp bạn ạ, chiếc xe đạp Trung Quốc với những người nghèo chúng mình ngày ấy đã là cả gia tài. Chúng mình ăn cơm ở hàng ăn bên đường, cơm trắng với ít đậu phụ rán cùng một ít nhộng xào tóp mỡ. Cả hai đứa đều rất nghèo…
Mùa thu, bằng lăng thưa thớt lắm, chỉ đôi đóa thấp thoáng sau vòm lá. Bằng lăng trái mùa như dồn tất cả sắc tím cả đời hoa cho những bông hoa cuối, tím đến se sắt lòng. Hai đứa tớ ngồi rất lâu ở Hồ Gươm ăn kem Tràng Tiền dưới cây lộc vừng già lâu đời nhất Hà Nội còn sót lại.Muộn hơn hoa sữa, hoa lộc vừng nở vào giữa mùa thu và thời gian hoa nở cũng diễn ra chóng vánh trong khoảng nửa tháng rồi lịm tắt để ấp ủ cho mùa sau. Nhưng tất cả sự chú ý của mình lại không dành cho lộc vừng, dù những bông hoa rực đỏ rơi sóng sánh mặt hồ. Mình nhìn phía bên kia đường, những chùm lẻ loi bằng lăng…Người ấy và mình cùng khóc, nắm mãi tay nhau hẹn sẽ tìm nhau dù xa xôi cách trở đến mấy, rằng chừng nào bằng lăng thôi tím thì hai đứa mình mới hết yêu nhau. Trên cầu mình nhìn bờ bãi Sông Hồng lóng lánh phù sa, tóc mình dài, gió đùa vương lên mặt người ấy, người ấy cứ đứng lặng bảo tóc mình thơm cỏ mầm trầu, hoa bưởi… Mình cười rúc rích, rồi ngẩn người khi mắt mình chạm vào đôi mắt nâu rất đẹp của người ấy. Hình như đàn ông mắt nâu đều rất lành hiền..  Năm ấy mình 17 tuổi chưa kịp hiểu không có tình yêu vĩnh cửu chỉ có khoảnh khắc tình yêu vĩnh cửu mà thôi.
Những trầm luân cuộc đời đẩy chúng mình xa ngái 2 đầu đất nước. Thương nhớ chỉ biết dồn vào cánh thư mực tím, những nhắn gởi vào cánh bằng lăng ép khô. Sau này mình bảo người ấy đừng ép hoa khô nữa, nhìn vô hồn lắm, tội lắm, hãy cứ để kí ức tím thẫm cả một vùng thơ ngây.
Chúng mình không là của nhau dù không phải hết yêu hay ai kia bội phản, cũng chẳng có cuộc chia tay nào. Đơn giản như một chiếc lá rụng cuối mùa. Mình mặc nhiên đổ lỗi cho mùa tím bằng lăng kia gợi nhớ tình yêu 17 tuổi. Buồn cười bạn nhỉ? Tất cả ai trong chúng ta, dù bao nhiêu tuổi, khi yêu cũng đều rất thơ ngây.
17 mùa thu tiếp theo trôi qua rồi bạn ạ. Rất đều đặn, một sự vô tình, lần nào mình trở lại Hà Nội của bạn cũng vào lúc thu sang hoặc sắp thu…Bây giờ mình không nghèo tới mức không mua nổi chiếc xe hay ăn một bữa cơm sang trọng. Mình hoàn toàn có thể, thậm chí hơn… Nhưng bạn biết không, mình vẫn thèm ngồi sau xe đạp, chạy thật chậm dưới tán bằng lăng, thi thoảng có chiếc lá rơi vờn qua tóc hoặc ăn một bữa cơm bụi lề đường chỉ có cơm trắng, đậu phụ rán và một ít con nhộng…
Bạn ạ!
Hồi chiều đi ngang cánh đồng nghe ngai ngái mùi khói rạ rơm, nghe cả tiếng hò của mấy anh thợ gặt… Mình dừng xe lại ngay, ngồi thụp xuống bờ cỏ, thương mùi rơm rạ âm ẩm mốc meo nằm xẹp mình trong dòng nước lũ còn ứ xanh rêu bên trong bờ đập. Cánh đồng đầy gió, nắng chín thấp thoáng cánh cò bên bờ ruộng. Những đám mây vô ưu trên đầu, xôn xao hàng dừa bồng trái. Vài đứa trẻ chân trần tung tẩy kéo cánh diều lên cao… Bình Yên! Có cơn gió bấc non luồn sau gáy, chợt giật mình. Tự nhiên nghe nhoi nhói lòng bởi mùa thu thực tại của mình chính là cánh đồng này đây mà sao bấy lâu nay mình dồn tất cả thương nhớ vào một mùa thu xa khuất..
Mình nhớ mùa thu phương Bắc không phải vì nhớ người ấy hay hối tiếc một tình yêu dang dở. Đôi khi không gặp nhau thì kí ức về nhau lóng lánh hơn, đẹp hơn và đáng nhớ hơn. Chính xác hơn là những tất bật, lo toan ngồn ngộn chất chồng trong cuộc sống khiến mối tình con trẻ kia chìm sâu, thậm chí khi về quê cũ có ai đó vô tình hỏi thăm, mình cũng chỉ cười xòa rồi bảo chẳng để tâm đến chuyện cũ. Tình yêu nó kì lạ vậy đó, khi con người ta nhận ra có những điều vĩ đại hơn nỗi nhớ kia, có mối tình đậm sâu gấp ngàn lần cần trân trọng thì lại quên đi chuyện cũ dễ dàng, cứ như chưa từng xẩy ra…
Chẳng ai đầy ải, cầm tù được giấc mơ, vì thế con đường bằng lăng vẫn ẩn hiện, một con đường rãi thảm sắc tím. Mình không phải là kẻ yêu cuồng, sống vội, mọi thứ đến và đi cũng ghi dấu, ở lại trong mình rất lâu… rất lâu. Mình không biết cách cố giành giật, níu kéo những điều đang tư từ rời bỏ mình đi…Mình chỉ biết đứng đó và đón đợi mọi điều không kháng cự và chấp nhận theo cái cách của mình.
Bạn nhắc về mùa thu, về màu tím miên man kia, về nỗi nhớ của bạn dành cho cái đứa đang gõ bàn phím nói linh tinh với bạn nãy giờ. Mình cũng nhớ bạn mà… Đôi khi nói tròn vành rõ chữ từ nhớ thấy mình sao sao… vì thực ra cảm giác ấy âm ỉ trong lòng mình để rồi bung lên khi mắt mình chạm vào cây ghita của bất kì ai. Bạn bảo bạn gẩy ghita vụng dại, mình mừng vì như thế sẽ hợp với giọng ca ngớ ngẩn của mình, chúng mình sẽ là “cặp đôi hoàn hảo”…
Mình nhớ cảm giác ngồi sau xe bạn, nghe bạn thầm thì về Hà Nội, về những xô bồ mình đang thấy kia không phải của Hà Nội đâu, về những ống khói trăm tuổi đứng cô đơn trước một ngôi nhà nào đó, về ngõ nhỏ quanh co, sâu hun hút vẫn còn những nụ cười hạt na của bà cụ tóc trắng vấn khăn… Bạn cười rất nhẹ khi mình hỏi bạn về những gã xe ôm hung hãn, bến xe kì quặc, quán ăn uy hiếp thực khách... Xe bạn lướt qua những gánh hàng hoa rạng rỡ dọc phố, thoáng chốc mình quên mất tuổi để tưởng mình mới đôi tám xuân thì nhí nhảnh ôm một bó sen hồng.
Câu chuyện 17 tuổi, thực sự đã chìm lấp, những tình yêu mới lại đến với mình, tâm hồn mình rộng rãi đón tất cả. Có thể là buổi sáng có đôi giọt sương đọng trên phiến lá si trước ngõ, là tiếng cười rúc rích của thiên thần nhà mình, là bữa cơm nóng hổi thơm ngát mình vừa nấu, là niền hân hoan khi mình vừa câu được một chú cá trong cái ao nhỏ trước nhà… Tình yêu đâu chỉ hạn hẹp giữa nam và nữ phải không bạn.
Đêm. Mưa. Đâu đó có bão…Hà Nội của bạn mùa thu vẫn hoa "cơm nguội vàng, cây bàng lá đỏ", lối nhỏ rêu phong, "hoa sữa thơm từng góc phố", cốm làng vòng "thơm bàn tay nhỏ"...
Ngày mai, khi bão tan, ở miền Tây vẫn tinh tươm một mùa thu mới với ngọn gió chướng non…
Mình cũng nhớ bạn… bạn ạ…dù thu có sang hay không?
Việt Hà 

Ngày mai, ngày mốt, một ngày nào đó


22/08/2012 21:20  |  88 lượt xem
Ly café đã tan hết đá, bạn nhìn chăm chú như thể đang nghiên cứu một công trình nào đó rất quan trọng. “ Mùa thu gần qua rồi đấy…”, bạn ngẩng lên nhìn mình, đôi mắt rất đẹp, mình loạng choạng cả chân đứng!
Bạn nói nhiều hơn mọi bữa, rằng từ ngày lao vào các phóng sự mình quên đi mùa thu, quên nỗi buồn nào đó lấp lửng, nhấp nhô trong lòng. Bạn nhớ mùa nắng chín, con đường tơ hồng, tổ chim sáo trong tán hoa ban… hai đứa dở hơi quên mình là những ông bố, bà mẹ đầy trách nhiệm để nằm dài trên cỏ ( hết sức mất nết) xem có đám mây nào bốc cháy, có đôi chân nào nhấc bổng bay qua những vuông đầm lỗ chổ trên cánh đồng miền Tây miên man.
Thật mệt cho những tiếc nhớ của bạn. Mình luyên thuyên về những “tâm thư” của người nổi tiếng, về bầu Kiên vừa bị bắt, về giá vàng đột nhiên chiều nay nhẩy dựng lên. Mình cũng chẳng biết mình nói gì nữa… Chỉ thấy loang loáng một con đường đầy bụi, người ta phóng xe kinh quá!
Bạn chẳng thèm để ý những điều mình nói. Đám lục bình đang trôi kia, mới cách đây một năm, bạn còn tốn khăn giấy cho mình bởi bổng dưng tím lịm bông cả một đoạn, trôi vô định rồi mắc kẹt ở một ống cống đầy rác rưởi. Khi ấy, bạn bảo, nhìn mình như một con mèo ướt, vai run lên, nức nở… Những buổi chiều, trên xe đạp, hai đứa mình thong dong như những người rất trẻ chứ không giống con mụ đàn bà keo keo kiệt, miệng leo lẻo trả từng đồng mớ rau con cá.
“ Sang năm thong thả về Lâm Đồng rồi lên Đà Lạt ăn khoai nướng…”, Ừ! Mà trời ạ! Lên Đà Lạt chỉ để ăn khoai nướng thôi à? Bạn đồ rằng trên cái thế giới này không ở đâu nướng khoai ngon hơn bà cụ ở Hồ Xuân Hương? Lên đi, nhỡ bà cụ không còn…
Đà Lạt của tôi vó ngựa chiều mưa lóc cóc dội về quán trọ
Lữ khách dừng chân giữa đường mưa gió
Ngước nhìn một khoảng trời thông
Bạn cười, thật hiếm hoi trong lúc này, mình nhún vai rồi nghiêng cười ( rất lịch lãm) cám ơn bạn… Bạn cười rộng rãi hơn trước một chút “ Như thế này mới là sến của tôi đấy!”. Ngày hôm qua đã lùi lại… bạn vẫn còn đó nét tinh tế nhẹ nhàng pha nét hào hoa của một nội tâm giàu có. Còn mình ( chẳng biết nữa) đang nhiễm cái thói “nóng nảy và vô tốc”, mình chưa đủ bản lĩnh để giữ lại cho bản thân một mùa nắng chín…
Thì hứa, ngày mai, ngày mốt, một ngày nào đó mình sẽ viết về mùa thu…
Sẽ nhanh thôi.
Trước khi mùa thu vừa xa khuất…
22.8.2012
Sến Hà 

Giữ bình yên nơi phố biển


   Tác phẩm đạt giải Nhì viết về hình ảnh người chiến sĩ công an nhân dân do Hội Nhà Báo Cà Mau tổ chức.
 
 
 
Bình dị trong đời thường, tận tụy trong công tác, 6 năm qua anh âm thầm giữ gìn sự bình yên nơi cửa biển. Khi màn đêm buông xuống, anh lại có mặt tuần tra trên từng con đường, góc phố để giữ gìn an ninh trật tự và cuộc sống bình yên cho nhân dân. Đó là hình ảnh anh Lê Minh Kiệt, Trưởng Công an khóm 4, thị trấn Cái Đôi Vàm, huyện Phú Tân.
Từ ngư phủ trở thành công an viên
Sinh ra ở TP Cà Mau nhưng gia đình khốn khó nên di cư đến Cái Đôi Vàm làm nghề biển. Tuổi thơ khó nhọc, học dang dở cấp 3, anh bỏ học đi bạn cho những chuyến ghe ra khơi đánh cá. Ngư phủ Lê Minh Kiệt lênh đênh trên những chuyến tàu biển hơn nửa tháng mới về đất liền.
 
 Anh Lê Minh Kiệt, Trưởng Công an khóm 4, thị trấn Cái Đôi Vàm, huyện Phú Tân.
Cuộc sống của anh gắn liền với sóng gió và những chuyến đi giữa biển khơi, đôi khi phải đánh cược mạng sống của mình để có miếng cơm manh áo. Anh chỉ mong làng cá có những ngày bình yên. Nhưng dường như sự bình yên ấy luôn xáo trộn sau mỗi kỳ con nước theo những thói tật xấu của những ngư phủ từ khắp nơi đổ về làng cá.
Cửa biển Cái Đôi Vàm sôi động, tập trung nhiều ngư phủ theo tàu thuyền từ Trà Vinh, Tiền Giang, Bến Tre… đến đánh cá và chọn nơi này lập nghiệp. Cùng với sự đông vui, tấp nập là sự phức tạp về an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Làng cá (khóm 4) trở thành “điểm đen” của thị trấn ven biển.
Các ngày mùng 9, mùng 10 âm lịch, tàu thuyền vào bờ, ngư phủ “xả hơi” sau chuyến đi biển dài ngày. Một thói quen của ngư dân dù đi biển trúng hay thất, những ngày ở đất liền tập trung ăn chơi “thả giàn” để bù vào khoảng thời gian lênh đênh trên biển vừa qua và tiếp sức cho chuyến ra khơi sắp tới. Trên bến, dưới thuyền ngư phủ say sưa nhậu nhẹt, đánh bài... Các tệ nạn xã hội mại dâm, ma túy len lỏi tận boong tàu…
Một lần đi biển về, trong bữa rượu mừng ghe trúng, hai ngư phủ ngà ngà say, lời ra tiếng vào, không tự chủ được, họ lao vào đánh nhau đến hỏng mắt, mặc cho các bạn thuyền can ngăn. Chứng kiến cảnh tượng ấy, anh đau lòng. Ngư phủ hứng chịu sóng gió ngoài khơi để tìm miếng cơm manh áo đã đành, về nhà lại gây ra sóng gió cho bản thân và người khác thì thật đáng buồn.
Anh trăn trở: “Làm thế nào để hạn chế tối đa những chuyện tiêu cực nơi làng cá? Mình phải làm điều gì đó thiết thực cho quê hương…”. Nghĩ là làm, anh cùng với Ban nhân dân khóm 4 đến từng nhà dân, từng tàu đánh cá tuyên truyền pháp luật, vận động bà con ngư dân không sa vào các tệ nạn xã hội, sống theo pháp luật, đoàn kết làm ăn, giữ hòa khí xóm làng.
Với sự đóng góp tích cực, năm 2006 anh được chính quyền địa phương bổ nhiệm chức vụ Phó Công an khóm 4. Đầu năm 2008, anh vinh dự được kết nạp vào hàng ngũ Đảng Cộng sản Việt Nam. Đây chính là nguồn động lực tinh thần lớn lao thúc đẩy anh trong suốt quá trình công tác.
Nhờ nỗ lực phấn đấu rèn luyện nâng cao phẩm chất chính trị, năng lực và đạt được nhiều thành tích trong công tác bảo đảm giữ vững trật tự an ninh, cuối năm 2008, anh được ban lãnh đạo Công an thị trấn Cái Đôi Vàm tin tưởng bổ nhiệm giữ chức vụ Trưởng Công an khóm 4.
Người công an tận tụy
Một buổi trưa trung tuần tháng 11/2011, khóm 4 náo loạn bởi một toán thanh niên mang hung khí gồm gậy, dao do tên Trần Văn Đương cầm đầu gây hấng với nhóm thanh niên địa phương. Vụ ẩu đả ngay trên tuyến đường chính nhiều người qua lại, đặc biệt ngay giờ hàng trăm học sinh tan học ra về. Nghe tin báo, anh Kiệt bỏ dở bữa cơm lao đến hiện trường.
Đám đông hỗn loạn, rất khó can ngăn hòa giải các đối tượng. Anh liên lạc với đội dân phòng cùng bộ đội biên phòng Đồn 699 nhờ hỗ trợ. Một mình tay không tiếp cận tên cầm đầu thuyết phục hắn hạ vũ khí, đồng thời trong tích tắc anh quật ngã tên Đương, đem các đối tượng về trụ sở công an thị trấn. Đó chỉ là một trong nhiều tình huống nguy hiểm đáng nhớ khi làm nhiệm vụ anh Kiệt từng đối mặt.
Một tuần sau đó, cô Thu Hằng, giáo viên Trường THCS Võ Thị Sáu, trên đường đi dạy kèm buổi tối về, bị một nhóm côn đồ chặn đường “xin đểu” và cướp điện thoại. Sau khi nghe tin báo, anh Kiệt phán đoán tình hình và nhận diện đối tượng. Ngay đêm đó, anh Kiệt cùng đội dân phòng bắt được nhóm đối tượng trên, trả lại tiền và điện thoại cho người bị hại.
Với tinh thần trách nhiệm cao, nắm vững địa bàn, khả năng phán đoán tình hình tốt nên hầu hết các vụ việc do anh xử lý đều được giải quyết nhanh gọn và đạt hiệu quả.
Điển hình năm 2009, anh Kiệt kết hợp với bộ đội Đồn biên phòng 699 bắt các vụ đánh bạc tại nhà đối tượng Nguyễn Văn Tam, số tiền mặt thu được hàng chục triệu đồng; năm 2010, kết hợp với Công an thị trấn ngăn chặn vụ thanh toán mâu thuẫn bằng vũ lực có hung khí của hai nhóm thanh niên lên đến vài chục người.
Chỉ trong năm 2011, anh hòa giải thành công 25 vụ, 47 đối tượng, chuyển về Công an thị trấn giải quyết 17 vụ, 24 đối tượng, kết hợp với Công an huyện bắt 1 đối tượng bị truy nã…
Trên cương vị của mình, anh Lê Minh Kiệt chủ động xây dựng kế hoạch, chương trình công tác cho mình. Nắm chắc tình hình trên tất cả các lĩnh vực của công tác bảo vệ an ninh khóm, ấp, tham mưu trực tiếp cho ban lãnh đạo Công an thị trấn, không để xảy ra tình huống bị động bất ngờ.
Nhờ làm tốt công tác tuyên truyền, xử lý các vụ việc vi phạm nên “điểm đen” về an ninh trật tự của thị trấn không còn ở mức báo động như trước, góp phần làm trong sạch địa bàn, giữ bình yên cho nhân dân yên tâm sinh sống, lao động sản xuất.
Dù là công an địa phương, chưa từng được đào tạo bài bản nhưng với lòng quả cảm, tinh thần phục vụ nhân dân cùng những nỗ lực phấn đấu không ngừng, trong 6 năm tham gia lực lượng bảo vệ an ninh trật tự tại địa phương, công an viên Lê Minh Kiệt đã nhiều lần được Công an tỉnh, UBND huyện và UBND thị trấn tặng giấy khen.
Anh tâm sự: “Thật lòng tôi cũng hơi lo khi đi bắt tội phạm, nhất là khi chúng dùng hung khí để đánh trả, mà chúng tôi ngoài bộ đồng phục thì không có công cụ hỗ trợ. Nhưng không thể phụ lòng tin tưởng của bà con. Vả lại, cần một chút khôn khéo, một chút dũng cảm và quan trọng nhất là sự giúp đỡ của người dân... thì nhiệm vụ dù khó khăn đến đâu cũng hoàn thành”.
Khuôn mặt phong trần cháy nắng, vóc dáng rắn chắc, anh Kiệt còn được người dân nơi đây gọi là người gác cửa rừng, khi anh phát hiện báo kiểm lâm ngăn chặn hàng chục vụ phá rừng mỗi năm.
Trong rất nhiều đợt tuyên dương điển hình tiên tiến, anh luôn xuất hiện với vẻ mặt hiền lành, nụ cười luôn nở trên môi. Tôi bắt gặp trong con người anh nhân cách sống giản dị, gần gũi với mọi người. Nhờ những tố chất này, anh đã trở thành một chiến sĩ công an dễ mến, dễ gần với đồng nghiệp, với nhân dân.
Tận tâm trong công việc dù mức phụ cấp ít ỏi, chỉ đủ tiền đổ xăng xe đi lại, nhưng anh chưa từng phàn nàn bất cứ điều gì hay đòi hỏi những quyền lợi riêng mình. Dù anh cũng như mọi người, phải bươn chải trong cuộc sống còn nhiều khó khăn, nhưng tất cả những điều đó không ngăn được anh âm thầm giữ bình yên cho nhân dân giữa đời thường bình lặng./.
Bài và ảnh: Việt Hà

NÓI VỚI CON VỀ TỔ QUỐC


19/08/2012 16:04  |  132 lượt xem

Vài hôm trước khi mua tấm bản đồ Việt Nam treo trong phòng khách, con gái hỏi mẹ: “ Tấm bản đồ này đâu có đẹp bằng những tấm tranh kia đâu. Mẹ treo làm gì?”, mẹ trả lời con gái rằng: “ Tấm bản đồ này đẹp hơn bất kì kiệt tác hội họa nào con ạ. Vì đó là Tổ Quốc mình.”. Con gái hỏi: “ Tổ Quốc là gì hả mẹ? ”.… Thật khó để trả lời cho đúng, cho đủ câu hỏi của con. Mẹ nhắc con nhớ lần đi Lâm Viên tháng trước, có một chú bạch mã Mông Cổ không chịu ăn cỏ, đứng chơ vơ, gầy héo hắt chỗ gốc cây xà cừ với chiếc dây thừng buộc chặt. Con thắc mắc sao chú bạch mã này xấu xí và yếu đuối đến thế, không giống như trong câu chuyện mẹ kể về những chú ngựa tung vó ngàn dặm?

Con thân yêu ạ,  Bạch mã chỉ phi nước đại trên thảo nguyên mênh mông hay trên sa mạc rộng lớn của nó. Bạch Mã đang nhớ mùi cỏ, nhớ nắng nóng và bụi mờ nơi quê hương Mông Cổ… Ngay cả cây lộc vừng trước cổng nhà mình dù được mẹ chăm sóc chu đáo đến mấy cũng còi cọc chẳng thể lớn dù đó chính là một cây con dưới cây lộc vừng mẹ bên Hồ Gươm. Lộc vừng nhớ giá rét mùa đông, nắng nóng mùa hè, se lạnh mùa thu và cái ấm áp của mùa xuân xứ bắc chứ không hợp với hai mùa mưa nắng ở miền Nam. Tổ Quốc là tiếng gà gáy sáng, là hiên nhà, là mồ hôi người nông dân rơi trên cánh đồng lúa chín vàng, hay khi gieo hạt trước Cửu Long giang lộng gió, là bát cơm thơm mùi gạo mới mình ăn, là ánh ban mai rạng hồng trong nụ cười của con, là tiếng con bi bô học nói, là khi chúng ta gọi tên đất nước mình trân trọng, thiết tha như tiếng mẹ gọi con, bà gọi cháu, vợ chồng gọi tên nhau…Tổ Quốc gần gũi như khi mẹ ôm con vào lòng…

Có thể con gái chưa hiểu được hết những điều mẹ nói, cũng như chính mẹ không đủ ngôn từ để nói về Tổ Quốc mình nhưng con hãy tin Tổ Quốc đâu chỉ là những điều xa xôi kia, những khẩu hiệu để người ta hô thật to mà Tổ Quốc còn là máu thịt của chính mình.

Cửa biển Cái Đôi Vàm chưa bao giờ đẹp hơn thế… Bình yên, hiền hòa…Hoàng hôn đang cố gom hết nắng của ngày để sáng rực lên ở phía khơi xa. Ánh nắng ban chiều cửa biển thật lạ. Nó không hề tiều tụy, lụi tàn mà thắm đỏ mãnh liệt, như thể cả những lượn sóng bạc đầu kia cũng được nhuộm sắc mầu kì diệu ấy. Dãi rừng phòng hộ ôm ấp thị trấn, thảm xanh mênh mông cùng với màu xanh nước biển trong thoáng chốc hòa với ánh mặt trời…
Thị trấn mình đang ở chỉ là một cửa biển nhỏ giáp Vịnh Thái Lan, giáp biển Đông và biển Tây, nơi có luồng cá khoai ngon nhất Việt Nam. Mẹ hay gọi là “ xó biển” của mẹ. Trường mẹ dạy nằm ngay cửa biển, nhìn qua ô kính nhỏ trên tầng 2 mẹ thấy cả thị trấn nhỏ nhoi hệt như một vệt sóng lẫn giữa mắm đước bạt ngàn cắm rễ vươn khơi.

Nhưng biển Đông đang nổi sóng ngoài kia…Một cô giáo vùng sâu như mẹ không có nhiều hiểu biết sâu sắc về chính trị, các thỏa thuận đa phương, các hiệp ước quốc tế nhưng mẹ có đủ hiểu biết để trình bày cặn kẽ bằng chứng Trường Sa – Hoàng Sa là của Việt Nam. Vòng tròn bất tử trên đảo Gạc Ma không chỉ bảo vệ lá quốc kì mà lời khẳng định cho Trường Sa – Hoàng Sa là bất tử như một Việt Nam bất tử !

Khi mẹ còn rất nhỏ, trong trí óc non nớt của mẹ Đất Nước là con đường vạn dặm trong hành trình gian khổ cả đời người của bà ngoại. Khi mẹ lớn, không gian rộng ra, bàn chân mẹ bước trên những miền khác nhau, Đất Nước vẫn không thay đổi, thiêng liêng, gần gũi ngay trong cảm nhận của mẹ. Đất nước là ngôi nhà cổ của bà Ngoại mấy trăm năm có tứ đại đồng đường cùng sinh sống ở Kinh Bắc; Là ngôi nhà gỗ ở Madaguil chỉ đủ kê 2 chiếc giường được bà ngoại ghép bằng những tấm ván vụng về; Là căn nhà lá ở Cà Mau có tiệm tạp hóa nhỏ xíu bà ngoại bán cóc keng mỗi ngày, để rồi khi con gái lấy chồng bà ngoại đặt vào tay mẹ chiếc nhẫn vàng làm của hồi môn, mắt bà long lanh ướt bảo rằng: “Mẹ nghèo chỉ có bấy nhiêu….”; Là khi con và em gọi “ Mẹ ơi…” tha thiết. Đất Nước của mẹ đơn giản là thế, đầy yêu thương và hy vọng.

Khi mẹ dạy bài “ Lòng yêu nước “ của ILia Erenbua dòng Neva hay Vonga tận nước Nga xa xôi kia chẳng lạ lẫm nữa. Ngực mẹ thấm đầy hơi thở châu thổ Cửu Long Giang, mềm mại sắc đỏ Sông Hồng. Bóng thùy dương tư lự trong bằng lặng của trưa hè vàng ánh bên kia bờ đại dương, thân thuộc tựa như hàng xà cừ trên lối mẹ con mình vẫn đi. Mẹ run lên khi nhắc lại lời của Ilia Erenbua “Lòng yêu nước ban đầu là yêu những vật tầm thường nhất”. Học trò miền Tây của mẹ vẽ lên hình Đất Nước bằng nét ngoằn nghèo non nớt dòng sông uốn lượn; bằng vòm me xanh lích rích tiếng chim đùa từng chùm quả chín; bằng hạt mưa đầu mùa cá theo luồng nước tràn về đồng ruộng; bằng những ngày nước lớn, trường học luyên loang nước, cô và trò sắn quần bì bõm cùng học mà tiếng đọc bài của trò nhỏ vẫn thánh thót vang xa dập dềnh theo lượn sóng nhỏ đập khe khẽ vào góc lớp; bằng hy vọng vào mỗi chuyến tàu mạnh mẽ căng buồm ra khơi mặc mưa bão và sự xua đuổi của tàu nước khác ngay chính trên lãnh hải nước mình… Học trò của mẹ chỉ rành mạch trên bản đồ nước Việt nơi đâu là Đất là Nước của ta, nơi đâu là Trường Sa, Hoàng Sa đang ngày đêm cuộn sóng gọi tên Tổ Quốc mình. Còn cái gọi là “ Tam Sa” kia, đôi mắt hồn nhiên bỗng cháy lên ánh lửa đủ để mẹ có quyền tin một ngày nào đó sẽ bị “xóa sổ” để đàn cá yên tâm bơi dưới nước, để sóng hát tình ca và anh lính Hải Quân thanh thản với buổi sáng trinh nguyên trên biển.

Lịch sử - chúng ta là con dân của một Đất Nước có 4000 năm lịch sử, một đất nước đi qua không chỉ hai cuộc chiến tranh chống Pháp, Mỹ tàn khốc, đất nước của những con người biết cất trái tim trong ba lô, quyết tử cho Tổ Quốc quyết sinh, đất nước mà ngay cả đứa trẻ lên ba cũng có thể trở thành dũng sĩ.  Con của mẹ đang ở lứa tuổi nhi đồng, nhưng 10 năm nữa con sẽ đứng trong hàng ngũ thanh niên Việt Nam – thế hệ Đất Nước mình trông đợi. Mẹ muốn các con sẽ được tin cái điều mẹ và hàng chục triệu dân Việt đang tin, đó là niềm tin vào Tổ Quốc. Để rồi cho dù tất cả chúng ta có là gì đi chăng nữa, khác nhau về quan điểm sống, nghề nghiệp hay tuổi tác… khi đất nước cần, chúng ta có cùng một điểm tựa là Người Việt Nam để sống mãnh liệt hơn cho Tổ Quốc.

Nguyễn Thị Việt Hà

Thứ Tư, 15 tháng 8, 2012

CHỢ NGƯỜI HIỀN



( Tác phẩm đạt giải 3 cuộc thi ĐỜI CHỢ VÀ TÔI do báo Tuổi Trẻ tổ chức )
Mẹ gọi cái chợ làng Dục Quang quê tôi là chợ người hiền. Chợ họp trên mảnh đất trống trước đình làng vào mỗi buổi sớm mai, bán những thứ rau trái quen thuộc nhà quê: mớ rau dền, rau muống, rau đay… xanh mướt cùng mấy thứ củ quả mùa nào thức nấy, ăn vừa tươi ngon mà không phải lo chuyện phân hóa học với thuốc sâu. Nhiều người đi chợ chỉ để bán mớ tôm cá tươi rói vừa đánh ngoài đồng vể hay quả trứng, con gà, con vịt đến lứa. Chợ hấp dẫn nhất là mấy hàng bún riêu cua thơm lựng nghi ngút khói, hay mấy mẹt bánh đúc dẻo thơm, bánh giò nóng hổi, bánh đa cong mình  nẩy bồng lên trên bếp than nóng. Lặng lẽ hơn là dãy hàng bán thúng, mủng, dần, sàng… đan cài với hàng bán chiếu, bán trầu cau, vỏ chay…
Người bán và người mua hầu như là người làng hoặc cùng xã nên bán buôn thân tình. Mẹ tôi nói nếu người bán nói thách lên ít đồng cũng để níu người mua nói thêm vài tiếng chuyện rồi chẳng kịp để ngã giá đã tự hạ giá như cái cớ để tình cảm thêm mặn nồng. Nhỡ hôm nay có cô hàng cá hay anh thợ vá dép vắng mặt người dân quê lại bồn chồn hỏi thăm nhau. “ Người ta đi chợ đâu chỉ để mua, để bán mà còn tìm chút ấm áp quê kiểng, chia ngọt sẻ bùi. Có người cả đời gắn với mớ rau con cá ở cái chợ quê này mà nuôi nấng con cái thành tài con ạ. Chợ người hiền là vì thế….”, giọng mẹ nghèn nghẹn khi vừa thầm thì với tôi vừa cân bún bán. Thúng bún tươi của mẹ gần cô hàng gạo nơi đầu chợ. Tôi hay theo mẹ vào những ngày chủ nhật phụ bán ít rau thơm trong vườn, hay mớ tép mẹ lặn lội đánh dậm. Mẹ làm luôn tay, chẳng khi nào nghỉ, hết chợ xa lại chợ gần, ruộng vườn rau củ luôn tươi tốt. Chừng đêm, mẹ xay gạo, mẹ không cho đứa nào phụ, mẹ làm một mình, ôm hết nhọc nhằn vào người để chúng tôi yên tâm học hành. Bóng mẹ in trên vách lầm lũi, cô đơn dưới ánh đèn dầu nâu vàng. Ngày ấy trong giấc mơ tôi có tiếng cối đá xay gạo xuyên đêm, có đôi tay sạm nắng đầy những vết chai sần vắt mạnh bột chảy thành dòng qua khuôn xuống nồi nước đang sôi réo, cuộn xoáy. Những sợi bún trắng mịn, dẻo theo đà xoáy tròn ấy mà chảy không dứt … Bún mẹ làm rất ngon, cân tươi tỉnh nên bán chạy, hết sớm. Tháng ba hoa gạo đỏ, mỗi buổi tan phiên chợ xa, mẹ hay đứng nghỉ dưới gốc gạo cổ thụ, mắt nhìn về phía con đường ngược về phương Nam trông đợi điều gì mà chị em tôi gặng hỏi mãi mẹ mới nói: “ Mẹ đợi cha, biết đâu hôm nay cha về…”.
Mẹ tôi gánh bún nặng vào mỗi buổi sớm mai ra “ Chợ người hiền” đầu làng. Gánh bún nửa thế kỉ đời người qua bao nhiêu thăng trầm, mẹ một mình âm thầm chịu đựng, nhẫn nhục, tín thác…gánh nắng mưa, nhọc nhằn, vất vả, nợ nần, khó nhọc, muộn phiền, mồ hôi, nước mắt… suốt dòng năm tháng để ba chị em tôi nên người như hôm nay.
Nguyễn Thị Việt Hà

CÓ CON SÔNG MÒN MỎI CHẢY QUANH ĐỜI



Em không trách anh đâu
Dù con thuyền xưa không đổ bến
Chiếc lá run lạnh
Tàn trăng vụn vỡ trên sông
Thu khóc heo may.
Con đường tơ hồng nghẹn ngào 
Sóng hanh hao áp vào bờ mộng mị
Nỗi cô đơn quánh đặc như đêm
***
Em đắp ngang trái lên ngực không chỗ cho những bình yên
Anh không bỏ em đi ....nhưng anh  mất hút trong trái tim em
Tình yêu trốn tìm trên con đường mòn mùa thu
Xa lắc cánh buồm kí ức
Có con sông mòn mỏi chảy quanh đời...
Nguyễn Thị Việt Hà

Ru con




Mẹ kết chiếc gối màu mây trời ru con ngủ
Mùa thu dịu dàng thơm má hồng tươi
À ơi, lời ru biển khơi, chiếc thuyền màu ánh trăng làm nôi mềm
Ngôi sao xanh, đậu bên thềm
Ngồi hát.
***
À ơi, con ngủ, ngủ ngoan trên ngực mẹ
Ngoài hiên có đôi chim sẻ
Cất giọng hót hiền
Gọi bình minh
Gọi tình yêu
Gọi những giấc mơ ngoan
Chiếc lá gọi mùa thu sang
Ấm hơi cánh đồng cổ tích
Con đê làng có lối sang khu vườn lưu giữ hồn quê.
***
Ngày mai...
Ngày mai...
Trên con đường dài
Bước chân con không còn nhỏ bé
Mẹ vẫn bên con
Đi về phía chân trời
* Yêu dấu tặng con của mẹ.
13.8.2012
Nguyễn Thị Việt Hà 

Thứ Bảy, 11 tháng 8, 2012

Giữ bình yên nơi phố biển


Tác phẩm giải Nhì cuộc thi viết về hình ảnh người Công an Nhân dân do Hội Nhà báo CM cùng Công an Tỉnh CM phối hợp tổ chức.
Bình dị trong đời thường, tận tụy trong công tác, 6 năm qua anh âm thầm giữ gìn sự bình yên nơi cửa biển. Khi màn đêm buông xuống, anh lại có mặt tuần tra trên từng con đường, góc phố để giữ gìn an ninh trật tự và cuộc sống bình yên cho nhân dân. Đó là hình ảnh anh Lê Minh Kiệt, Trưởng Công an khóm 4, thị trấn Cái Đôi Vàm, huyện Phú Tân.
Từ ngư phủ trở thành công an viên
Sinh ra ở TP Cà Mau nhưng gia đình khốn khó nên di cư đến Cái Đôi Vàm làm nghề biển. Tuổi thơ khó nhọc, học dang dở cấp 3, anh bỏ học đi bạn cho những chuyến ghe ra khơi đánh cá. Ngư phủ Lê Minh Kiệt lênh đênh trên những chuyến tàu biển hơn nửa tháng mới về đất liền.
 
 Anh Lê Minh Kiệt, Trưởng Công an khóm 4, thị trấn Cái Đôi Vàm, huyện Phú Tân.
Cuộc sống của anh gắn liền với sóng gió và những chuyến đi giữa biển khơi, đôi khi phải đánh cược mạng sống của mình để có miếng cơm manh áo. Anh chỉ mong làng cá có những ngày bình yên. Nhưng dường như sự bình yên ấy luôn xáo trộn sau mỗi kỳ con nước theo những thói tật xấu của những ngư phủ từ khắp nơi đổ về làng cá.
Cửa biển Cái Đôi Vàm sôi động, tập trung nhiều ngư phủ theo tàu thuyền từ Trà Vinh, Tiền Giang, Bến Tre… đến đánh cá và chọn nơi này lập nghiệp. Cùng với sự đông vui, tấp nập là sự phức tạp về an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Làng cá (khóm 4) trở thành “điểm đen” của thị trấn ven biển.
Các ngày mùng 9, mùng 10 âm lịch, tàu thuyền vào bờ, ngư phủ “xả hơi” sau chuyến đi biển dài ngày. Một thói quen của ngư dân dù đi biển trúng hay thất, những ngày ở đất liền tập trung ăn chơi “thả giàn” để bù vào khoảng thời gian lênh đênh trên biển vừa qua và tiếp sức cho chuyến ra khơi sắp tới. Trên bến, dưới thuyền ngư phủ say sưa nhậu nhẹt, đánh bài... Các tệ nạn xã hội mại dâm, ma túy len lỏi tận boong tàu…
Một lần đi biển về, trong bữa rượu mừng ghe trúng, hai ngư phủ ngà ngà say, lời ra tiếng vào, không tự chủ được, họ lao vào đánh nhau đến hỏng mắt, mặc cho các bạn thuyền can ngăn. Chứng kiến cảnh tượng ấy, anh đau lòng. Ngư phủ hứng chịu sóng gió ngoài khơi để tìm miếng cơm manh áo đã đành, về nhà lại gây ra sóng gió cho bản thân và người khác thì thật đáng buồn.
Anh trăn trở: “Làm thế nào để hạn chế tối đa những chuyện tiêu cực nơi làng cá? Mình phải làm điều gì đó thiết thực cho quê hương…”. Nghĩ là làm, anh cùng với Ban nhân dân khóm 4 đến từng nhà dân, từng tàu đánh cá tuyên truyền pháp luật, vận động bà con ngư dân không sa vào các tệ nạn xã hội, sống theo pháp luật, đoàn kết làm ăn, giữ hòa khí xóm làng.
Với sự đóng góp tích cực, năm 2006 anh được chính quyền địa phương bổ nhiệm chức vụ Phó Công an khóm 4. Đầu năm 2008, anh vinh dự được kết nạp vào hàng ngũ Đảng Cộng sản Việt Nam. Đây chính là nguồn động lực tinh thần lớn lao thúc đẩy anh trong suốt quá trình công tác.
Nhờ nỗ lực phấn đấu rèn luyện nâng cao phẩm chất chính trị, năng lực và đạt được nhiều thành tích trong công tác bảo đảm giữ vững trật tự an ninh, cuối năm 2008, anh được ban lãnh đạo Công an thị trấn Cái Đôi Vàm tin tưởng bổ nhiệm giữ chức vụ Trưởng Công an khóm 4.
Người công an tận tụy
Một buổi trưa trung tuần tháng 11/2011, khóm 4 náo loạn bởi một toán thanh niên mang hung khí gồm gậy, dao do tên Trần Văn Đương cầm đầu gây hấng với nhóm thanh niên địa phương. Vụ ẩu đả ngay trên tuyến đường chính nhiều người qua lại, đặc biệt ngay giờ hàng trăm học sinh tan học ra về. Nghe tin báo, anh Kiệt bỏ dở bữa cơm lao đến hiện trường.
Đám đông hỗn loạn, rất khó can ngăn hòa giải các đối tượng. Anh liên lạc với đội dân phòng cùng bộ đội biên phòng Đồn 699 nhờ hỗ trợ. Một mình tay không tiếp cận tên cầm đầu thuyết phục hắn hạ vũ khí, đồng thời trong tích tắc anh quật ngã tên Đương, đem các đối tượng về trụ sở công an thị trấn. Đó chỉ là một trong nhiều tình huống nguy hiểm đáng nhớ khi làm nhiệm vụ anh Kiệt từng đối mặt.
Một tuần sau đó, cô Thu Hằng, giáo viên Trường THCS Võ Thị Sáu, trên đường đi dạy kèm buổi tối về, bị một nhóm côn đồ chặn đường “xin đểu” và cướp điện thoại. Sau khi nghe tin báo, anh Kiệt phán đoán tình hình và nhận diện đối tượng. Ngay đêm đó, anh Kiệt cùng đội dân phòng bắt được nhóm đối tượng trên, trả lại tiền và điện thoại cho người bị hại.
Với tinh thần trách nhiệm cao, nắm vững địa bàn, khả năng phán đoán tình hình tốt nên hầu hết các vụ việc do anh xử lý đều được giải quyết nhanh gọn và đạt hiệu quả.
Điển hình năm 2009, anh Kiệt kết hợp với bộ đội Đồn biên phòng 699 bắt các vụ đánh bạc tại nhà đối tượng Nguyễn Văn Tam, số tiền mặt thu được hàng chục triệu đồng; năm 2010, kết hợp với Công an thị trấn ngăn chặn vụ thanh toán mâu thuẫn bằng vũ lực có hung khí của hai nhóm thanh niên lên đến vài chục người.
Chỉ trong năm 2011, anh hòa giải thành công 25 vụ, 47 đối tượng, chuyển về Công an thị trấn giải quyết 17 vụ, 24 đối tượng, kết hợp với Công an huyện bắt 1 đối tượng bị truy nã…
Trên cương vị của mình, anh Lê Minh Kiệt chủ động xây dựng kế hoạch, chương trình công tác cho mình. Nắm chắc tình hình trên tất cả các lĩnh vực của công tác bảo vệ an ninh khóm, ấp, tham mưu trực tiếp cho ban lãnh đạo Công an thị trấn, không để xảy ra tình huống bị động bất ngờ.
Nhờ làm tốt công tác tuyên truyền, xử lý các vụ việc vi phạm nên “điểm đen” về an ninh trật tự của thị trấn không còn ở mức báo động như trước, góp phần làm trong sạch địa bàn, giữ bình yên cho nhân dân yên tâm sinh sống, lao động sản xuất.
Dù là công an địa phương, chưa từng được đào tạo bài bản nhưng với lòng quả cảm, tinh thần phục vụ nhân dân cùng những nỗ lực phấn đấu không ngừng, trong 6 năm tham gia lực lượng bảo vệ an ninh trật tự tại địa phương, công an viên Lê Minh Kiệt đã nhiều lần được Công an tỉnh, UBND huyện và UBND thị trấn tặng giấy khen.
Anh tâm sự: “Thật lòng tôi cũng hơi lo khi đi bắt tội phạm, nhất là khi chúng dùng hung khí để đánh trả, mà chúng tôi ngoài bộ đồng phục thì không có công cụ hỗ trợ. Nhưng không thể phụ lòng tin tưởng của bà con. Vả lại, cần một chút khôn khéo, một chút dũng cảm và quan trọng nhất là sự giúp đỡ của người dân... thì nhiệm vụ dù khó khăn đến đâu cũng hoàn thành”.
Khuôn mặt phong trần cháy nắng, vóc dáng rắn chắc, anh Kiệt còn được người dân nơi đây gọi là người gác cửa rừng, khi anh phát hiện báo kiểm lâm ngăn chặn hàng chục vụ phá rừng mỗi năm.
Trong rất nhiều đợt tuyên dương điển hình tiên tiến, anh luôn xuất hiện với vẻ mặt hiền lành, nụ cười luôn nở trên môi. Tôi bắt gặp trong con người anh nhân cách sống giản dị, gần gũi với mọi người. Nhờ những tố chất này, anh đã trở thành một chiến sĩ công an dễ mến, dễ gần với đồng nghiệp, với nhân dân.
Tận tâm trong công việc dù mức phụ cấp ít ỏi, chỉ đủ tiền đổ xăng xe đi lại, nhưng anh chưa từng phàn nàn bất cứ điều gì hay đòi hỏi những quyền lợi riêng mình. Dù anh cũng như mọi người, phải bươn chải trong cuộc sống còn nhiều khó khăn, nhưng tất cả những điều đó không ngăn được anh âm thầm giữ bình yên cho nhân dân giữa đời thường bình lặng./.
Nguyễn Thị Việt Hà

MUÔN NẺO “ TÒ TÉT”….


Trong cái nắng như đổ lửa hay mưa mù trời,  khắp các nẻo đường ở Cà Mau có những con người áo sờn vai, quần bạc màu đường đất rạc chân đẩy chiếc xe thu mua phế liệu.  Mỗi ngày, họ cặm cụi len lỏi từng ngõ hẻm, góc phố thu mua những đồ dùng cũ kỹ với biết bao khó khăn, cực nhọc vì nặng gánh mưu sinh. Trong số ấy, có người nhờ nghề này mà nuôi con cái học hành đến nơi đến chốn. Cái nghề mà có lẽ chỉ duy nhất ở Cà Mau này có tên gọi rất riêng là “ Nghề tò tét” khi công việc của họ gắn chặt với tiếng “ tò tét” vang lên từ đôi tay chai sần, đen nhẻm khi bóp chiếc kèn tự chế.

Những mảnh đời sống nhờ phế liệu…
Lẫn mưa nắng, xe cộ, bụi đường… những con người lam lũ bất kể đàn ông hay đàn bà, trẻ nhỏ hay người lớn đều có thể làm nghề thu mua phế liệu chỉ cần lận lưng một số vốn nho nhỏ.  “  Cả gia đình tui trông chờ vào cái xe “ tò tét” . Nhà nghèo, không ruộng đất, thất nghiệp vì công ty giải thể… Tui không biết làm sao kiếm sống nên phải làm cái nghề này. Cực dữ trời lắm cô. Một ngày tui lội cả chục cây số ở thành phố này không kể nắng mưa vừa mua vừa lượm phế liệu mà chỉ đủ ăn chớ không có dư dành dụm. Đời tui khổ, tui ráng để sắp nhỏ được ăn học đặng sau này có cái nghề…” -  Anh Chánh ( Phường 6 – Cà Mau ) ngậm ngùi tâm sự. Anh sắp xếp lại đống đồ cồng kềnh vừa mua để gọn lại trên xe. Gương mặt sạm khắc khổ nắng gió, trông anh già hơn rất nhiều so với tuổi 40 của mình. Anh vuốt lại những tờ tiền rồi cẩn trọng bỏ vào trong túi, gò lưng đẩy chiếc xe nặng nề, tiếng tò tét từ chiếc kèn bóp lại vang lên theo từng bước chân, hứng cái nắng rát bỏng từ mặt đường hắt lên.  Chị Kim Phô Lel ở Đông Hưng – Cái Nước ngồi bệt trong góc khuất của con hẻm Phường 8 giở cặp lồng cơm tranh thủ ăn trưa. Chị xúc từng muỗng cơm ăn với cá khô, kế bên là ca trà đá thay canh ăn ngon lành. Chị kể: “ Tui ở mướn gần 10 năm rồi cô. Khổ dữ lắm mới bỏ xứ đi, ráng mần cho con đi học. Năm 2007 chồng tui cặm cột điện mướn cho người ta không may bị điện giựt chết. Mình tui với 2 sắp nhỏ, mướn vuông người ta mần không đủ sống nên tui lên Cà Mau làm cái nghề này cho sắp nhỏ được đến trường. Chịu siêng thì ngày cũng kiếm được chừng hơn trăm ngàn, xài nhín nhín thì cũng đủ…”.  Cùng cảnh ngộ với chị Lel là chị Mai quê ở Sóc Trăng trôi dạt xuống Phường 8 – Cà Mau cũng thu mua phế liệu mưu sinh. Suốt ba năm với xe đẩy và chiếc kèn bóp, không một con hẻm nào, đường phố nào ở thành phố Cà Mau không in dấu chân chị. Hai vợ chồng với 3 đứa con sống trong căn phòng mướn chưa đầy 10m vuông chật chội. Chị nói chị không sợ cực, thậm chí có người tỏ vẻ kinh khi và đề phòng hoặc xua đuổi chị như kẻ trộm khi nghe tiếng tò tét…. Nhưng chị sợ những đêm tối trời về muộn, đi qua hẻm vắng vật vờ mấy tên say sỉn, nghiện ngập lao ra sàm sỡ. Có lúc sợ quá nhưng không dám bỏ xe cứ thể vừa đẩy xe, vừa chạy thoát thân. “ Cực đó nhưng không dám bỏ nghề vì bỏ nghề biết làm gì kiếm sống nuôi con. Cũng không còn cảm giác tủi thân như những ngày đầu nữa, mình sống ngay thắng không có cướp giựt của ai là được. Trong xóm “ tò tét” của tui ai cũng động viên nhau ráng được như gia đình anh Nguyễn Văn Thương ở Cái Nước đẩy xe “ tò tét” mà nuôi con học Đại Học.”
Nắng xế, ở một góc đường, lẫn trong gió bụi, người phụ nữ trạc ngoài 30 dáng vẻ lam lũ gạt mồ hôi đội chiếc nón đã cũ lầm lũi đi tiếp trong con hẻm dài hun hút. Chị không quên ngoái lại mỉm cười gật đầu chào. Nụ cười của chị lóng lánh trên gương mặt nắng làm cho cháy đen.
Giấc mơ Đại Học từ chiếc xe tò tét…
Theo câu chuyện của chị Mai chúng tôi tìm về Cái Nước để gặp anh Nguyễn Văn Thương. Tiếp chúng tôi trong căn nhà nhỏ thuộc ấp Ngọc Tuấn, huyện Cái Nước anh cười cởi mở: “ Mọi bữa giác này tui còn đẩy xe. Cái nghề này đâu thiếu mồ hôi, nước mắt nhưng nhờ nó mà gia đình tui đủ ăn, sắp nhỏ được đi học”. Gần 50 tuổi, anh đã có đến hơn 20 năm “ thâm niên” gắn bó với nghề thu mua phế liệu. Anh trở dậy từ lúc sáng sớm cùng vợ lo cơm nước cho các con đi học rồi mang theo cặp lồng cơm trưa cùng tiếng tò tét vang mọi thôn cùng ngõ hẻm: Anh tần ngần kể: “ Trước đây tui cũng có chiếc xe đạp kéo nhẹ hơn xe đẩy nhưng sau đó nhường lại cho sắp nhỏ đi học. Vì nghèo quá, vợ tui thường xuyên đau yếu, hai đứa con đầu phải nghỉ học sớm, điều đó khiến tôi hối hận hoài. Mấy đứa sau tui nhứt quyết phải ráng mần, cực khổ nhiêu cũng chịu, miễn tụi nó được đi học”. Vợ chồng anh đều thuộc lớp người “ nghèo từ trong trứng nghèo ra”, miếng đất cắm chòi còn không có lấy đâu ra vuông bọng để cấy lúa, nuôi tôm như người ta. Cũng muốn kiếm việc gì đó buôn bán nhưng không có vốn hoặc làm mướn ở các khu công nghiệp trên Bình Dương nhưng vợ anh lại đau bệnh nên anh ở nhà. Hồi mới “ vào nghề” tiền lời chỉ đủ mua kí gạo về nấu cháo trắng, về sau quen dần cuộc sống cũng ổn định. Giờ thì một ngày trung bình  anh cũng kiếm được từ 60.000 đ đến 100.000 đ tiền lời. Niềm hạnh phúc nhất của gia đình anh có lẽ đặt hết vào cháu Nguyễn Vũ Linh - hiện là sinh viên năm cuối của trường Đại Học Cần Thơ khoa Tài Chính Kế Toán và cậu con út đang học cấp 3, hai cháu đều học rất giỏi.
Chiều muộn, trên đường về, lẫn với tiếng còi xe vang lên inh ỏi từ đường quốc lộ là tiếng tò tét khiêm tốn vang lên như bị tiếng ồn ào đường phố nuốt chửng, những con người bé mọn còng lưng đẩy chiếc xe chở phế liệu cồng kềnh nặng nề gấp nhiều lần thân thể họ. Trong số đó có em Nguyễn Thị Thuý quê ở Cái Đôi Vàm – Phú Tân mang ước mơ Đại Học theo từng tiếng “ tò tét” vang lên sau xe đẩy. Em chia sẻ: “Đang học lớp 11 thì mẹ em bị bệnh nặng, em nghỉ học phụ gia đình nhưng em chưa bao giờ nghĩ mình sẽ bỏ dở giấc mơ thành cô giáo. Chiếc xe này đã giúp gia đình em qua những ngày khốn khó và sẽ giúp em trở lại trường… Nhất định năm sau em sẽ tiếp tục đi học… Mẹ em cũng đã khỏi bệnh…”. Gương mặt nhỏ nhắn ánh lên nước da khoẻ mạnh dãi dầu mưa nắng của Thuý, nụ cười như sáng lên bởi ước mơ và quyết tâm chinh phục ước mơ ngỡ xa vời với cô “tò tét” nhỏ bé ấy!
Không biết trên đất nước này có bao nhiêu người “gia nhập” vào “đội quân phế liệu” nhưng tôi biết cái nghề ở Cà Mau gọi theo tiếng kèn bóp tự chế ấy có nhiều người làm nghề cực nhọc ấy lắm. Họ có thể là người địa phương hoặc từ nơi khác đến. Họ có thể chỉ sống qua ngày với chén cơm trắng, hột vịt kho, chén canh rau, ngủ trong căn nhà trọ ọp ẹp hoặc ngả lưng nghỉ trưa ở một góc khuất của một con hẻm nào đó. Cuộc sống của họ là mảng đối lập với một thành phố trẻ sôi động, nơi các nhà hàng và tiệm ăn sang trọng đang mọc lên như nấm… Nhưng trong số họ, những giấc mơ đẹp đang dần trở thành hiện thực khi con em họ đang miệt mài học tập trong giảng đường Đại Học. Cuộc sống mưu sinh đòi hỏi ở những người như họ sự cần cù, nhẫn nại và cả sự vất vả, hy sinh. Vì hạnh phúc gia đình và tương lai của các con, những con người ấy đã tảo tần, chịu thương, chịu khó để vượt lên...

Nguyễn Thị Việt Hà 

VÉ SỐ LOANH QUANH KÝ…


Phóng sự
 VÉ SỐ LOANH QUANH KÝ…
Những tấm vé số được đội ngũ đông đảo từ nông thôn đến thành thị, đủ mọi lứa tuổi rao bán. Họ đi đến mọi ngã đường từ quán café đến quán nhậu, len lách những chỗ đông người chào bán sự may mắn. Còn họ chỉ mong những đồng tiền lời đủ đắp đổi qua ngày…
Những đứa trẻ không được nghỉ hè.
Mùa hè, phần lớn trẻ em được nghỉ ngơi, vui chơi, giải trí, nếu có bận bịu đôi chút thì cũng chỉ vì phải học thêm hoặc tham gia những môn thể thao ưa thích. Tuy nhiên, có một bộ phận không nhỏ học sinh phải tự thân kiếm sống dịp hè. Một trong những công việc mưu sinh thường thấy của các em học sinh nghèo lứa tuổi THCS là bán vé số.
Những ngày hè “đội quân vé số” ở Cà Mau dường như tăng gấp nhiều lần bởi sự tham gia của những em học sinh nghèo khó vừa được nghỉ hè. Các em bươn chải trong cuộc mưu sinh lầm lũi với ước mơ đến trường mà không từng biết đến những chuyến du lịch, về quê vui chơi như những đứa trẻ khác.
Đã 3 năm nay, cứ đến kỳ nghỉ hè, Yến Linh (Trần Văn Thời – Cà Mau) lại theo chị lên Sài Gòn bán vé số dạo, kẹo và thuốc lá. Thức dậy từ sáng sớm, em lội bộ khắp các nẻo đường đến chiều tối mới về nghỉ ngơi ở phòng trọ chừng 20m2 chứa hơn chục người cùng quê cũng bán vé số dạo. Mỗi ngày, chị em Linh bán được khoảng 300 tờ vé số, mỗi tờ hưởng hoa hồng từ 700đ đến 1000đ, trừ ăn uống, tiền trọ, các em dư khoảng 160.000đ. Nhờ vậy gần 2 tháng hè, hai chị em mang về cho mẹ hơn 4 triệu đồng để mua quần áo, sách vở, đóng học phí. Nhà Linh nghèo, ba má mướn vuông nuôi tôm, tôm thất, ba má đi đào đất, làm thợ hồ hoặc làm cỏ cho người ta. Mấy anh, chị của Linh nghỉ học giữa chừng, còn Linh hết hè này lên lớp 9. Linh nói em không sợ đường xa nhưng sợ gặp người xấu thì có khi mất hết cả vốn lẫn lời: khách mua tráo vé cũ lấy vé mới hoặc vờ mua rồi giật luôn cả cọc vé số, chuyện tranh giành địa bàn bán vé giữa “ma cũ, ma mới” cũng gây không ít phiền toái…
Cùng lên Sài Gòn kiếm tiền trong hè với Linh có em Nguyễn Văn Phong (Đầm Dơi – Cà Mau). Mỗi ngày Phong đi bộ dưới cái nắng gay gắt hay những cơn mưa trắng trời không dưới 30km để bán vé số dạo. Ban đầu không quen đường, Phong bị lạc, vừa mệt vừa đói mãi đến khuya mới tìm được đường về mà chỉ dám lót bụng ổ bánh mì khô. Những hôm bán ế, Phong còn đánh giày ở công viên hay vác hàng mướn. Cực nhọc khiến em già hơn tuổi 16 rất nhiều. “Ba đi ghe biển gặp bão số 5 năm 1997 rồi mất tích đến giờ. Má em đi lấy chồng. Nội nuôi em ăn học. Năm sau em lên lớp 10, em ráng kiếm tiền phụ nội đặng đi học tiếp…” – Phong ngậm ngùi tâm sự.
Những đứa trẻ ở quê cầm trên tay xấp vé số cũng nhọc nhằn không kém. Em Nguyễn Văn Phi (Phú Tân – Cà Mau) 13 tuổi, học lớp 6 nhưng người nhỏ thó như trẻ lên 9. Nhà Phi ở xóm đảo, ba đi biển, mẹ bán vé số, mấy anh cũng đi ghe biển mướn cho người ta. Trong năm học, buổi sáng em đi học, buổi chiều theo mẹ bán vé số. Nghỉ hè, đôi chân bé nhỏ ấy theo gió bụi nhọc nhằn để mong từng đồng tiền hoa hồng từ tờ vé số. Mỗi tờ vé giá 10.000đ, Phi nhận hoa hồng 800đ, mỗi ngày em bán được chừng 40 đến 50 tờ vé. Nhiều khi đứng nép sau cánh cửa nhà Văn hóa nhìn các bạn vui chơi, múa hát em thèm lắm được hòa vào không khí hồn nhiên ấy nhưng xấp vé số còn dày… Em lủi thủi bước ra. Ước mơ lớn nhất của em lúc này là sau 2 tháng hè, số tiền dành dụm sẽ mua được một chiếc xe đạp đến trường cho đỡ cực…
“Cô, chú mua dùm con tờ vé số” - Tiếng rao trong trẻo vang lên giữa nhịp đời hối hả của những đứa trẻ nhà nghèo luôn mong ước sẽ kiếm được chút ít tiền để con đường đến trường của mình đỡ nhọc nhằn hơn nhiều khi mất hút giữa đám đông, không được ai chú ý. Đằng sau tiếng rao ấy có không ít những giọt mồ hôi đắng chát đổ ra cho cuộc mưu sinh vất vả của những đứa trẻ không hề biết có một kỳ nghỉ hè sau năm học.
Những góc khuất…
Những người bán vé số dạo có mặt khắp nơi trên đất nước ta, không cùng quê hương xứ sở nhưng chắc rằng họ cùng một hoàn cảnh, không thể tìm được việc làm khác để nuôi sống bản thân và gia đình nên đành chấp nhận bán cái rủi may. Ở “đội quân vé số” ấy, có những câu chuyện, những thân phận con người khiến ta cảm thương, xúc động… Hình ảnh chúng ta bắt gặp trên phố đến con hẻm nhỏ cùng với cách họ "marketing" thật ngộ nghĩnh, hài hước như những tiếng rao có vần có điệu, làm ảo thuật… để mời mọc và mua giúp tờ vé số. Ở một góc khuất nhỏ nào đó, họ cùng với hộp cơm rẻ tiền, ly trà đá tiếp sức cho hành trình mưu sinh tiếp theo. Thèm lắm một bữa cơm có đầy đủ cá thịt nhưng đành lướt qua để dành dụm tiền gởi về quê cho con ăn học với giấc mơ con cái thành đạt từ những đồng tiền đẫm mồ hôi ấy.
Vợ chồng anh Nguyễn Bá Tịnh từ Quảng Trị tìm đến Cà Mau để mưu sinh. Anh chị chọn góc chợ hẹp ở Cái Nước để đặt xe hủ tiếu gõ bán buổi tối còn ban ngày cả 2 bán vé số, có khi bán thêm bắp rang bơ. Anh chị có 2 con đang học cấp 2. Ruộng ít, đồng mùa thất kém, nhà nghèo, 2 vợ chồng đành gởi con cho bà nội, ly hương kiếm sống. Đã đi nhiều nơi, từ Vũng Tàu, Sài Gòn cuối cùng anh chị neo đậu lại Cà Mau. 4 năm nơi quê người, nhớ quê lắm nhưng không về được vì sợ tốn kém. Khoản tiền dành dụm ấy là của các con, phần này để ăn uống, phần này đi học, phần này thi đại học, phần này để dành xin việc… Những lo toan chồng chất khiến đường về quê càng hun hút. Hai con như hiểu lòng bố mẹ nên thư nhà báo tin chúng đều ngoan và học giỏi.
Sáng nào, chị Võ Thị Phấn (Tắc Vân – Cà Mau) cũng thức từ rất sớm khi các con chưa thức giấc. Lo cơm sáng cho các con ăn trước khi đến trường, để sẵn trên bàn rồi chị đạp xe đi lấy vé số bán.  Ba má chị là ai, chị không biết… Chị chỉ biết sống lăn lóc đầu đường xó chợ rồi may mắn lấy được tấm chồng. Ít lâu sau, chồng chị bỏ đi để lại cho chị hai đứa con cách nhau 1 tuổi còn chưa đi vững. Chị bươn chải, nhất quyết nuôi các con ăn học nên người. Với cái nghề bán giấc mơ đổi đời cho người khác, chị tằn tiện, chắt bóp lắm mới đủ cho cuộc sống của 3 mẹ con. Tiền lời, chị mua con heo, con gà… những đồng tiền ít ỏi nẩy nở là giấc mơ về tương lai của các con sáng hơn. 2 đứa trẻ, ngoài giờ học còn biết làm bánh cam, bánh bao bán dạo phụ mẹ. Nhiều người hiểu hoàn cảnh của chị, khi trúng số, họ thường thưởng thêm cho chị có khi đến vài trăm ngàn. Vai bạc nắng, da sạm đen, trên chiếc xe đạp cọc cạch, chị băng qua phố phường chào mời từng tờ vé một cách nhẫn nại nhưng đôi chân ấy như chưa hề biết mệt mỏi.
Chiều nào, ở thị trấn Cái Đôi Vàm người ta cũng thấy một cậu bé chừng 10 tuổi bán vé số. Cậu bé rất lễ phép chỉ mời chứ không nài ép gây phiền phức cho khách. Điểm khác biệt với những người bán vé số ở đây là vé số của cậu bé bao giờ cũng được nhiều người mua và hết sớm. Người ta kể rằng cậu bé ấy tên là Trần Văn Lộc, bán vé số nuôi mẹ bị bệnh nặng... Lộc còn mang theo một cái bao, trên đường nếu gặp vỏ lon bia, mảnh nhựa, sắt vụn… là em nhặt bán, kiếm thêm tiền. Hỏi Lộc về ba, Lộc hồn nhiên nói: “Từ nhỏ đến giờ em đâu có biết ai là ba của em đâu”.
Có biết bao mảnh đời vé số, mỗi người mang một nỗi niềm nhưng điểm chung nhất của họ là đã biết đánh đổi giọt mồ hôi khó nhọc để kiếm những đồng tiền chân chính. Từ đó biết vượt qua số phận, làm chủ cuộc sống của mình – điều đó thật đáng trân trọng!
Nguyễn Thị Việt Hà 

ĐƯA BÀ RA ĐỒNG


(Kính viếng hương hồn bà)
Khi tôi viết những dòng này thì bà tôi đã về nơi chín suối, nơi có ông tôi, mẹ tôi đứng đợi sẵn ở cổng thiên đường.
Tôi không rõ có thiên đường không, hay đó là sản phẩm của trí tưởng tượng con người nhưng tôi tin những người hiền hậu, cả đời chỉ biết hy sinh và chấp nhận mọi cay đắng về mình như bà sẽ có một chốn yên lành ở một thế giới khác cái thế giới bụi bặm, bon chen, xô bồ mà chúng ta đang sống. Bà đi nhẹ…Giống như cách bà sống. Như một cơn gió. Bà bảo rằng bà đi gặp ông thế là bà đi, chẳng đau đớn, vật vã gì cũng chẳng phiền luỵ đến cháu con. Ở khoảng cách gần 2500km từ Cà Mau đến Bắc Giang theo khói hương tôi tiễn bà ra đồng một đoạn đường xa.
Mẹ tôi lớn nhất, sau mẹ còn bảy cậu dì nữa. Đồng chiêm trũng, làng nghèo xơ xác, ông mất sớm thế mà cơm rau, cháo trắng bà nuôi tám con tươi da thắm thịt, có sự nghiệp riêng. Các cậu, dì đều ở quanh bà, chỉ mình mẹ theo chồng về tận miền Nam. Hạnh phúc mảnh như sợi tơ nhện, mưa chẳng lớn, gió chẳng to cũng đủ bứt khỏi mối ràng buộc vợ chồng khỏi cuộc đời mẹ. Buồn tủi, mẹ đưa ba chị em chúng tôi về quê ở với bà. Mẹ lặn lội chợ xa theo những chuyến buôn từ biên giới. Mấy chị em núp trong chiếc áo nâu ám mùi khói bếp, theo bước chân người đàn bà Giao Chỉ bàn chân năm ngón trạng ra rời rạc bám đất quê mà lớn lên.
Đồng mùa thất kém, cả làng Dục Quang phải sang làng Thượng xếp hàng mua bã đậu ăn thay cơm. Nhà bà cũng chẳng khá khẩm gì hơn, các cậu, các dì lót bụng bằng bã đậu xào với ít mỡ lợn có rắc thêm ít hành hoa hoặc bà nén thành bánh có pha thêm tí muối, mì chính hấp lên. Chỉ có chúng tôi được ăn cháo khoai tây, khoai lang, thỉnh thoảng được ăn cháo trắng với ít con cá mắm mẹ mua về. Đến bữa thấy bà và mẹ ăn rau khoai, rau má luộc tôi ngơ ngác hỏi sao mọi người không cùng ăn cháo, bà cười: “Ăn rau cho nhuận tràng, mát ruột con ạ…”. Tuổi lên năm, lên ba, tôi tin ăn rau thay cơm cho mát ruột chứ chưa nghĩ được rằng bà và mẹ nhường cháo cho mình nên hồn nhiên xì xụp húp cháo mặt mũi đỏ bừng vì cháo nóng. Bà cầm quạt mo vừa quạt cho cháu vừa quạt nồi nước chè xanh cho mau nguội để đổ vào bi đông cho ba đứa mang đi học khi khát có cái mà uống. Bà cười, nụ cười thơi thới, thanh thản khi cầm bình bi đông nhét vào cặp cho cháu còn thêm túm ngô rang ăn vặt.
Quanh đi quẩn lại bà nấu chỉ vài món ăn: canh rau, canh khoai, rau xào, cá kho, tôm rim… thỉnh thoảng có ít thịt kho nhưng món nào bà nấu cũng đều ngon và có hương vị riêng. Thích nhất là món cá bống kho dưa vào mùa đông. Cá bống do các cậu đi đánh dậm mà có. Bà làm sạch cá, trộn với dưa cải muối, ít gừng nêm thêm ít gia vị cho vào nồi đất rồi bà vùi xuống bếp tro, nồng rơm trên nóc vung rồi để yên cho đến khi dọn cơm thì bới rơm ra. Cá bà kho quyện dưa thơm phức, ăn đến đâu xuýt xoa đến đó, vét đến hạt cơm cuối cùng trong nồi mà vẫn còn thèm. Mùa đông còn là mùa táo, mùa bưởi, cả cơ thể bà như được ướp hương táo chín, hoa bưởi thơm. Bà hái táo bỏ vào rổ tre, nhặt ra những quả to nhất cho các cháu rồi bao nhiêu đem ra chợ bán. Một ít quả bị chim ăn dở bà bảo nhìn xấu xấu thế thôi chứ những quả này rất ngọt. Bọn trẻ chúng tôi xúm vào bốc ăn rồi chẳng thèm những quả táo to căng bóng kia nữa vì quả táo chim ăn ngọt hơn mấy quả lành lặn. Bà hay nhặt hoa bưởi rụng bỏ vào nồi nước có thêm mấy lá sả, bồ kết nướng, ít hương nhu, cỏ mần trầu nấu lên gội đầu cho cháu. Tay bà vò đầu rồi theo gáo nước xoa khắp cơ thể, tay bà ram ráp những vết chai, bà còn trêu bà đang đếm xương sườn của cháu gái xem cần bao nhiêu gạo thóc nữa mới phổng phao. Tóc tôi dài và mượt đến tận bây giờ chẳng phải do các loại dưỡng chất từ dầu gội, dầu xả danh tiếng trên ti vi người ta vẫn quảng cáo mà nhờ vào những nồi nước lá ngày ấy của bà. Tối lạnh, mẹ vắng nhà, rúc vào lòng bà nghe hương rơm rạ lẫn với hương hoa bưởi, hương táo chín ba đứa trẻ ngủ ngoan lành. Trong giấc mơ chúng tôi có đôi cánh thần tiên bay trên cánh đồng xanh mướt lúa ngô như trải dài đến tận chân trời, triền đê rộn ràng trẻ chăn trâu thả sáo diều.
Tháng Chạp, thấp thoáng tết, bà tẩn mẩn săm soi mấy cái áo váy cũ xin được của người bà con tên phố xem hàng nút, chỗ sứt chỉ, kết mấy bông hoa vải, sửa lại cho vừa vặn, giặt thơm tho ướm vào người tôi và em gái bảo: “ Cũ người mới ta, cháu bà đẹp mặc cái chi chẳng đẹp…”. Bà bảo xoay đi xoay lại để bà xem rồi tấm tắc khen cháu của bà giống công chúa trong truyện cổ tích khiến chúng tôi bỗng cảm thấy mình trở nên lộng lẫy vô cùng. Giữa mùa thu bà đem áo rét cũ ra xem chỗ nào còn vá víu, cái nào ngắn cho đứa bé, đứa lớn thì mặc áo bông của bà… Gió mùa đông bắc vun vút tím tái da thịt thế mà chỉ cần được bà ủ vào lòng chị em tôi đã đủ ấm. Nồi cháo hoa đã sẵn bà bảo húp đi cho ấm lòng, mắt bà âu yếm nhìn ba đứa cháu cút côi ánh lên nụ cười khi mỗi năm mỗi đứa cao hơn cả gang tay. Ngước nhìn bà, lúc ấy tôi mới để ý bà mặc mãi chiếc áo bông nâu không biết có bao nhiêu mảnh vá, gương mặt bà sạm đen, tóc trắng hết cả đầu từ dạo nào. Mắt cay cay, tôi đưa bát cháo mời bà ăn cho cháu vui lòng, cháu no rồi, mùa đông lạnh bà đừng ăn rau mãi vì có phải mùa hè đâu mà cần mát ruột…
Trong số mấy mươi con cháu nội ngoại, bà yêu thương ba chị em tôi nhất, có lẽ vì chúng tôi bị cha bỏ rơi từ nhỏ. Bà dạy cháu con không bằng roi vọt mà bằng ca dao tục ngữ, bằng lòng tin chân lý “ở hiền gặp lành”, thế giới những người đã khuất, bà tin có thiên đàng và địa ngục, tin “ trời có mắt”…. Những ngày rằm theo bà đến chùa ngồi lậy phật chờ đón miếng oản be bé mà tin đó là lộc phật, mấy chị em dành một phần cho mẹ để mẹ ăn cho bớt khổ vì trong miếng oản tí ti ấy có ước muốn cha tôi trở về với bốn mẹ con, trời có mắt hẳn sẽ nhìn thấy mẹ còng lưng đạp xe gió ngược buôn chuyến đường xa kiếm tiền nuôi chúng tôi ăn học, trời sẽ thương mà đánh động cha tôi tan u mê biết lối tìm về. Bà nghe cháu khấn lấy khăn lau mắt, dắt cháu về đêm hè trời trong, đường xa hoá gần theo câu chuyện kể Tống Trân – Cúc Hoa. Tôi cứ thắc mắc trong lòng không hiểu sao bà tôi thực gốc dân rơm rạ, nửa chữ không biết nhưng bà thuộc mấy trăm câu tục ngữ, truyện cổ tích, truyện Nôm khuyết danh và thuộc cả Truyện Kiều không sai đến một chữ. Mẹ đi buôn chuyến dài ngày, nhớ mẹ em trai tôi khóc hờn, bà chải chiếu ra sân hóng mát, xoa lưng ba đứa cháu kể chuyện cổ tích, lụm cụm bắt đom đóm bỏ vào vỏ trứng gà làm đèn lồng chơi trăng dù chẳng phải trung thu. Em trai tôi thôi khóc, tôi và em gái thôi than thở nhớ nhung mẹ, ngủ say trong lòng bà. Sau này lớn lên, thành cô giáo, được đi đến nhiều nơi tôi mới hiểu bà là hiện thân của làng Dục Quang được bao bọc luỹ tre xanh, đầu làng có ngôi đình cổ, cuối làng có gốc gạo trăm tuổi, bà là đồng đất rơm rạ bao dung ăm ắp yêu thương nên tự tích luỹ kinh nghiệm dân gian dậy con, dạy cháu để tuổi thơ tôi ngấm tình yêu ấy của bà rồi đam mê viết văn, dạy văn như thể được di truyền. 
Trong khốn khó, thỉnh thoảng bà vẫn nhín tiền chợ, gạo thóc để làm bánh. Rất nhiều món bánh quê ngày ấy còn đọng lại trong trí nhớ của tôi mà bây giờ ở miền Tây tôi sống chẳng thấy người ta bán. Bánh đúc pha với lạc chấm mắm tôm hoặc chan canh cua đồng, bánh giò nhân mộc nhĩ thịt ba chỉ, bánh nếp… nhưng tôi thích nhất là bánh khúc. Chừng khoảng tháng Giêng, tháng Hai rau khúc mọc đầy đồng những bụi sát đất lúm xúp màu xanh ngai ngái phủ một lớp lông mịn phấn bạc. Rau khúc xay ra trộn với bột nép, nhân đậu xanh vàng lịm cho bánh ngọt; nhân mộc nhĩ, hành hoa, hạt tiêu, thịt ba chỉ cho bánh mặn… Bánh khúc bà làm có mùi thơm ngậm ngùi như mùi nước mắt, mùi hắc ngọt của lúa khoai ngoài đồng, có vị ngọt của gạo đầu mùa, có cả vị tê tái những ngày giáp hạt. Bà cầm đôi bánh thắp hương ông, bà khấn vái có vần có điệu ngân nga như hát chèo. Cầm miếng bánh khúc màu xanh nguyên thuỷ mấy chị em ăn dè sợ mau hết, ba chị em nhìn nhau cười khúc khích khoe những chiếc răng dính bánh xanh xanh. Bà sẩy lạc lép gần đấy ngưng tay nhìn ra phía cánh đồng xa nơi ngô đang kì mẩy hạt ông tôi nằm bình yên giữa thửa ruộng xanh non.
Năm 1992, mẹ dắt ba con đi vùng kinh tế mới. Bà gạt nước mắt tiễn con, tiễn cháu. Dốc chiếc ruột tượng ấm hơi, ẩm mồ hôi quanh người lấy ra những cuộn tiền nhỏ mà các cậu, dì biếu mỗi dịp lễ tết cho ba cháu. Bà ra tận đầu đường, nơi xe ô tô chờ cả đoàn người bỏ quê tìm rừng lập nghiệp. Xe chạy, chúng tôi ngoái lại mãi thấy bà thấm nước mắt bằng vạt áo nâu cũ sờn…
Những ngày tha hương, mấy mẹ con chân mòn lối lên núi đồi, bốn tấm thân bé nhỏ đại ngàn như muốn nuốt chửng, mồ hôi, nước mắt mưa rừng trộn vào nhau, cơ cực không biết bao nhiêu mà kể. Nhưng chúng tôi vẫn đến trường học giỏi giang, ngoan lành, hiền thảo. Trên đỉnh đồi Bảy Tầng tận Lâm Đồng mấy mẹ con ngồi nghỉ ăn nắm cơm nhìn về phương Bắc, mẹ nén tiếng thở dài, còn ba chúng tôi không dám hỏi mẹ giờ này bà đang làm gì. Chỉ thỏ thẻ xin mẹ chuyến sọt mới này mẹ con mình ăn khoai sắn cũng được để chừa ít đồng mua cho bà tấm áo mới… Mẹ quệt mồ hôi, đôi mắt rất đẹp của mẹ long lanh ngập nước, mẹ phạt đám dây mây mù mịt mở lối đường tắt về nhà, tranh thủ hái đám rau tầu bay non nhớt về xào ăn cơm. Mẹ kể ngày đi bộ đội thứ rau này cưu mang đồng đội của mẹ qua những ngày thóc cao gạo kém lương thực chưa kịp tiếp tế…
Mẹ tôi đau nặng bà đón mẹ về chăm sóc như thuở còn thơ bé. Bà hơn 80 tuổi chăm sóc con gái chưa đầy tuổi 50 như người ta chăm em bé. Bà thay áo quần, xoa lưng mẹ ngủ để quên cơn đau khủng khiếp của bệnh ung thư. Bà nắn đôi bàn tay bị cây rừng mấy bận xuyên qua cong queo, tàn tật như thể để những ngón không lành lặn kia trở lại những ngón thuôn dài như khi mẹ còn thiếu nữ… Khi còn trẻ, mẹ đẹp nhất làng. Con gái đẹp ít ai được sống hạnh phúc, bà bảo thế. Mẹ đi, mùa đông tê tái, bà rắc giấy vàng bạc gió tung khắp trời, bà không khóc nhưng tiếng hát chèo của bà kinh động trời xanh, trời hanh lạnh bỗng đổ mưa. Đám ma mẹ tôi đông lắm, cả làng đưa tiễn, đường ra đồng khấp khểnh ổ trâu, bà bảo các cậu nương nhẹ xe tang cho bà nhờ, con gái của bà cả đời khổ hạnh thì lúc nhắm mắt hãy để mẹ được đi đoạn đường êm… Bà ấp ba đứa cháu cút côi vào lòng, gió đồng hiu hắt, cánh đồng làng ẩm ướt mưa đông, bà bảo đừng khóc để mẹ không vướng bận. Mẹ đi sớm biết đâu sướng hơn trần gian mẹ ở. Cái trần gian toàn quỷ thần đầy đoạ thân mẹ…Đôi bánh khúc cúng bà làm bỗng nhiên gắt nồng, đắng ê hề… Đắng như lòng bà tiễn đứa con gái bà quý yêu nhất rời bỏ bà khi tóc hãy còn xanh. Mẹ nằm cạnh ông, cánh đồng bên dòng sông, con dộc dài mọc đầy rau khúc vào tháng Giêng, Hai…
Ba đứa chúng tôi không ở cùng bà, lưu lạc mãi Cà Mau, vài năm mới về thăm bà, thăm mẹ một lần. Người đàn bà Giao Chỉ có đôi bàn chân choãi ra giờ chân chậm run rẩy chẳng đi đồng nữa ở nhà chăm bầy cháu chắt, con của cậu út, chăm thêm con gà, con lợn, chăm cây táo kiếm đồng quà tấm bánh. Bà chẳng chịu ngơi tay, chẳng chịu ở yên hưởng sự chăm sóc báo hiếu của đàn con bảy đứa đã công thành danh toại. Chúng tôi lớn, cao hơn bà nhưng mỗi lần về vẫn muốn mình nhỏ lại, cong lưng núp vào lòng bà, để bà xoa lưng ru ngủ. Bà nghe ai nói tôi thành nhà thơ, nhà văn, bà mừng bảo tôi đọc bà nghe tôi viết những gì… Giải thích mãi rằng tôi chỉ là cô giáo nhỏ dạy văn của bà thôi, có đôi bài thơ chẳng thành thơ, đôi câu chuyện chẳng ra truyện nhưng vẫn thỏ thẻ đọc bà nghe… Hốc mắt khô của bà bỗng dưng trào tuôn, những giọt hiếm hoi có lẽ rỉ từ tim khi nghe tôi đọc những bài thơ về mẹ, về chiếc ruột tượng đẫm mồ hôi bà vẫn quấn ngang người…
Khi bà gần 90 tuổi, bà vẫn tinh anh, minh mẫn chứ không lú lẫn như những người già ở thế hệ bà. Tiếng hát chèo vẫn luyến láy ngân nga, vẫn dạy cháu chắt bằng ca dao, tục ngữ, hò chèo, vẫn dành cho ba đứa cháu xa vừa tròn một vòng đất nước một tình cảm đặc biệt trong số mấy mươi cháu chắt vì “ Chúng nó mồ côi, mồ cút…”. Thi thoảng gọi điện thoại bà vẫn rổn rảng: “ Hà ởi, tết này vợ chồng con cái ba đứa chúng mày bảo nhau về Bắc Giang bà nấu bánh đúc, bánh khúc cho mà ăn…”.
Chúng tôi đã định tết này…
Nhưng bà đi, sau một cơn gió. Nhẹ. Nhanh. Thanh thản. Tôi gục xuống bàn phím đang dở dang một truyện ngắn cho một tờ báo… Tôi muốn vùng chạy băng qua 2500km kia về với bà, về với căn nhà cổ có tứ đại đồng đường hiếu thuận từ trên xuống dưới, về với cánh đồng trơ gốc rạ, nồi cá bống rim dưa quấn rơm chín rục, về để phủ phục xuống chân bà hôn lên đôi bàn chân Giao Chỉ… Lối bà đi xanh ngần lúa khoai, thơm hương rơm rạ và cả mùi táo chín… Đêm chập chờn mộng mị, tôi theo đoàn người tiễn bà ra đồng, đoàn âm binh vừa ló mặt đã bị giông cuốn đi, rợp trời hoa bưởi bay, chân lót mềm rau khúc… Mẹ tôi đứng kế bên ông áo dài khăn vấn đón bà…xung quanh gò đống tổ tiên vàng rắc bay kín đồng.
Đường ra đồng hun hút sâu… Tôi hớt hải cầm tấm áo lụa Hà Đông chạy theo đưa bà nhưng chạy mãi… chạy mãi mà không với tới để đưa tấm áo mới  đến được tay bà…

Cà Mau, tháng 4 năm 2012