Ảnh Việt Hà

Ảnh Việt Hà
Ta về trồng cỏ dại đầy sân...

Thứ Ba, 27 tháng 3, 2012

Vườn chim giữa lòng thành phố

Cách đây mười lăm năm, khi lỡ chuyến đò về Cái Nước, tôi đành ở lại ở bến Tàu A đợi chuyến đò sớm nhất vào 6 giờ sáng mai. Buổi chiều, Cà Mau như gom hết cái nắng tháng Tám hắt lên đường phố. Lóc cóc vác ba lô tản bộ loanh quanh trên những con đường gần bến Tàu. Nắng, bụi và mệt tôi ghé lại quán café ven đường. Từ vời vợi trời xanh, tiếng chim trong vắt, véo von vọng xuống, lắng tai còn nghe rõ tiếng đập cánh xôn xao cùng tiếng chim gọi bạn ban chiều. Thấy tôi ngơ ngác chị chủ quán xở lởi: “ Có nơi đâu chim về làm tổ trong thị xã hông cô? Chớ ở đây có đó. Nguyên vườn chim nằm ở Lâm Viên 19/5, đủ loại chim nhưng nhiều nhứt là cò, mồng, két, le le, vịt nước,diệc, bồ nông khoang cổ, sếu … Giác này là giờ chim về tổ.”
Theo hướng chị chủ quán dễ mến chỉ tôi đi về phía Tây thành phố để đến vườn chim cách bến Tàu A ( cũ ) chừng non cây số. Giữa xanh thẳm đước, tràm, màu trắng của những cánh chim như hò hẹn từ bao giờ cùng bay về. Đước,  tràm như cánh tay vươn đỡ cánh cò sà xuống tán lá, vạc xám về sớm giật mình vụt bay lên, le le tranh thủ tán chuyện trước khi yên ổn trên nhành cây quen thuộc của mình. Tiếng chim vịt kêu chiều, âm điệu khắc khoải gợi buồn khiến khách phương xa lỡ chuyến đò cuối trong ngày bỗng dưng chùng bước. Nắng xế dần, đèn đường đã bật, tôi bước quay đi vẫn còn nghe rõ tiếng chim đập cánh mà ước ao mình cũng là chú chim nhỏ kia nằm yên ổn trong chiếc tổ ấm.
 
 Vườn chim.                                                                        Ảnh: THANH QUANG
Cà Mau là xứ sở của đầm lầy, lau sậy. Như những lưu dân xa xưa đến vùng đất đen không phải để lãng du mà đi khai sinh cho một vùng đất, tôi đến Cà Mau để tìm ‘ đất lành” cho chuyến neo đậu dài lâu của cuộc đời mình. Những gót chân lưu dân đi khai khẩn, mở đấtcòn để lại trên đầm Thị Tường tựa như một bảo tàng sống về nét cư trú đặc trưng của lịch sử người Việt nơi này. Những lưu dân cất nhà trên mặt nước mênh mông cư trú ngay trên đầm lầy ngập nước mà sinh sôi nảy nở qua mấy trăm năm thì chẳng cớ gì một đêm lỡ đò lại có thể làm tôi phân vân. Quảy ba lô, tìm một quán trọ gần bến Tàu, lấp bụng bằng tô bún nước lèo nổi tiếng có xuất xứ từ dân tộc KhơMe, sau này là món ăn độc đáo của cả ba dân tộc Khơme – Kinh – Hoa. Đêm ấy trong giấc ngủ của tôi xôn xao, râm ran tiếng chim của từng đàn chim bay về tổ ban chiều giữa lòng thị xã.
“ Không phải quê cũng đã là người của xứ”, mười lăm năm, một cô gái vừa độ tuổi mười tám đeo ba lô tìm xứ đất đen lập nghiệp và đã ở lại đất này, nơi sinh ra những con người chịu thương, chịu khó, những con người lầm lũi để rồi hôm nay mở ra một Cà Mau thành phố cuối trời Tổ quốc, tôi đã trở thành người Cà Mau từ khi nào không rõ . Thỉnh thoảng tôi thon thót giật mình lo sợ mất tiếng chim như nỗi hoảng hốt buổi sáng thức dậy chẳng còn thấy ánh ban mai khi có một tay săn chim cầm theo cây súng hơi hay nguyên cả dẫy phố mọc lên la liệt những quán nhậu với nhiều món độc trong đó có món “ lẩu cò” có làm “ mất tích” những cánh cò trắng muốt? . Nhưng Cà Mau của tôi mãi mãi còn ríu rít tiếng chim của vườn chim được xây dựng giữa lòng thành phố  từ năm 1995  hài hoà với nhịp sống hiện đại của con người, mặc cho phố xá và những công trình xây dựng đua nhau phát triển .
Nguyễn Thị Việt Hà
P/s: Bài đã sử dụng trên Thời Nay số 230 ra ngày 26.03.2012

Thứ Hai, 26 tháng 3, 2012

THƯ GỞI ADMIN

Admin rất mến!
Tớ đã từng phân vân đến hoang mang khi được bạn chuyển cho đường link trang Web http://sites.google.com/site/nguyenthiviethacamau/home tập hợp các tác phẩm của tớ với sự trình bày cẩn trọng nâng niu. Làm sao không phân vân cho được khi nhìn vào chính mình mà không phải là mình!? Làm sao không hoang mang cho được khi “ một ai đó” nhọc công lưu giữ tất cả những gì mình viết, kể cả những cảm xúc rời rạc? Một loạt nghi vấn tiếp nối trong đầu tớ. Cậu là XYZ nào đó… với mục đích ABC, cả tốt, cả xấu… Cậu là ai? Là ai? Trong số những người tớ đã gặp, đã thân, đã quen hoặc chỉ lướt qua nhau chỉ để lại một ánh nhìn…
Thôi thì hãy để tớ viết, trong bức thư này, cứ xưng hô như thể cả trăm năm nay tớ vẫn xưng hô như thế. Dù có thể cậu là một ai nhỏ tuổi hơn hoặc lớn tuổi hơn…nhé cậu!
Cậu đã nói rằng: “Cuộc sống vốn dĩ là những mảnh đời và mỗi con người là một nhân vật trong vở kịch cuộc đời. Mỗi nhân vật đều muốn hoàn thành vai diễn của mình một cách trọn vẹn vì thế đôi khi chính nhân vật đó chẳng thể nào sống thực với tâm hồn và trái tim. Trong sâu thẳm mỗi chúng ta đều có một góc khuất, có thể chúng ta bắt gặp được  những tâm hồn đồng điệu trong những bài viết.
Trang web này được quản lý bởi một người yêu thích những bài viết của Việt Hà. Mục đích của trang web là đểlưu giữ lại những cảm xúc của một con người và chia sẻ nó cho nhiều người khác khi cần đến...
Hãy cứ gọi người quản lý trang web bằng cái tên Admin.
Cảm ơn Việt Hà đã cho tôi và độc giả những giây phút thoải mái, thăng hoa cùng dòng chảy của ngòi bút Việt Hà. Khi bắt gặp được những lời tri ân này mong Việt Hà hãy xem việc làm này của tôi chỉ để tỏ lòng cảm kích và có cơ hội "cóp nhặt lá vàng bay" mỗi độ Thu về. Tôi muốn sống trong bầu trời Thu cùng Việt Hà...bằng tâm tưởng và "hòa quyện khí Thu" trong những bài viết.
Tớ mỉm cười, thanh thản với ý nghĩ: Cậu đã xuất hiện, đã bên tớ, đã cùng tớ đi trên hành trình mùa thu thì hà cớ gì tớ phải suy nghĩ, truy tìm cậu là ai…? Ẩn số ấy thôi thì cứ nằm trong vỉa tầng kí ức, cho tớ tưởng tượng với từng cung bậc cảm xúc của mình để tin rằng dù tớ có viết gì, có là ai đi chăng nữa thì ít nhất có Admin cậu đọc, nâng niu và cất dùm tớ một cauchuyenmuathu yêu dấu. Để một lúc nào đó, cậu xuất hiện bằng xương, bằng thịt trước tớ để tớ chạm vào, vỡ oà, cười khóc… Dù lúc ấy có khi mái tóc hai ta sương bãng lãng phủ, nếp nhăn đã xếp lên mặt dấu ấn thời gian.
Tớ tin lời cậu: “ Được sống là diễm phúc của mỗi con người. Thế nhưng Sống "có ý nghĩa" thì diễm phúc hơn gấp vạn lần. Người ta thường nói "Cơ hội chỉ đến có một lần" và với tôi "cảm xúc" hàng ngày cũng chính là những cơ hội hiếm hoi mà trời đất ban cho. Thể hiện cảm xúc và ghi lại những khoảnh khắc xúc động với cuộc sống, với con người và với chính "con tim" mình là điều nên làm. Bởi lẽ biết đâu ngày mai chúng ta chẳng còn cơ hội để thể hiện cảm xúc và thậm chí tâm hồn mình không còn cơ hội để xúc động nữa... 
Cậu ạ… Tớ đang ngồi bên cậu bên bờ sông, trên phiến đá ven suối, trong thung hoa vàng để nói với cậu những điều rất linh tinh nhưng khiến tớ xúc động. Bởi cũng như cậu tớ sợ “ ngày mai chúng ta chẳng còn cơ hội để thể hiện cảm xúc và thậm chí tâm hồn mình không còn cơ hội để xúc động nữa”. Tớ nghe cậu nói không phải bằng lời mà bằng ánh mắt thăm thẳm, bằng chiều sâu tâm hồn và bằng chính sự dịu dàng cậu đã dành cho tớ… Nhưng tớ đang ngồi một mình, bên cửa sổ được phủ mát bằng tán hoa ban đang bật ra những bông tím biếc. Có mùi ẩm mục của đám lá khô gặp mưa mấy hôm trước được ủ bằng thứ nắng vàng giòn của chiều qua. Ngực tớ đang thở bằng nhịp sống bình yên, tay tớ vẫn ấm như thể trong ấy có nắng, tâm hồn tớ rung lên nhè nhẹ những cảm xúc về cuộc sống.
Mẹ tớ gieo hạt giống trong kí ức tuổi thơ để cuộc đời cho những mầm khoẻ mạnh nẩy lên xanh kiệt cùng nắng gió. Tớ đã sống bằng hỷ, nộ, ái ố, bằng những điều cao cả xen lẫn tầm thường, hạnh phúc trộn khổ đau, chân thật và dối trá… Con người ta cứ cố đi tìm những điều hoàn hảo để cuối cùng nhận ra sự hoàn hảo kia chỉ là một khái niệm không hề hoàn hảo.
Tớ yêu mùa thu như trăm ngàn phụ nữ lãng mạn khác. Mùa thu đối với tớ những năm thơ ấu không có tiếng lá khua động dưới gót chú nai ngơ ngác nào đó, không có không gian xanh, nắng dịu ngọt, gió hiu hiu lạnh vờn trên cỏ may cũng chẳng có con sông nước xanh ngắt nhìn thấy đáy nơi những hòn cuội đóng rêu nằm sát bên nhau… Mùa thu của tớ là bếp than hừng hực lửa trong gian bếp cũ mẹ và chúng tớ làm bánh đa quế bán cho các bà, các chị đồng nát, mồ hôi mẹ tớ rơi trên chính thau bột được ủ từ đêm qua, mồ hôi chúng tớ rơi trên trang sách học tranh thủ lúc dừng tay nặn bột. Cũng có khi mùa thu thơ trẻ là giấc ngủ trưa hiếm hoi êm ả dưới giàn thiên lý mẹ tớ xoa lưng và hát quan họ ( đến giờ tớ vẫn thích xoa lưng..hì..dù thay vì được xoa lưng thì tớ xoa lưng cho Đậu Đỏ, và sau này là Đậu Xanh thôi…). Âm thanh thu là tiếng dế trái mùa, tiếng bầy sẻ cũ ríu rít, tiếng lách tách của bỏng ngô buổi sáng mẹ rang nhét vào túi cho chúng tớ ăn thay quà sáng.
Sau này lớn lên, khi biết mơ mộng mùa thu của tớ là màu tím rực của hoa bằng lăng cuối mùa, là cơn lốc  đỏ cao nguyên vấy lên tà áo đến trường, là những cuộc rượt đuổi của biến cố muốn nhấn chìm cả gia đình tớ xuống, những chuyến đi may rủi liên tục từ vùng này sang vùng khác theo đời mẹ để tìm một chỗ náu nương yên ổn. Cũng có lúc mơ mộng cậu ạ. Khi chàng trai người Hoa đẹp nhất trường đêm nào cũng treo ở phòng tớ nhành hồng thắm, một túi me dầm, những chiếc bánh tiêu. Mùi nước hoa đắt tiền phả ra từ người cậu ấy thơm lựng phòng kí túc xá chứa toàn bọn sinh viên nghèo cỡ tớ. Cậu ta lẽo đẽo theo tớ, ngồi phía sau lưng tớ mỗi khi tớ lên thư viện hoặc ngồi bên chiếc ghế đá trong công viên. Tớ biết hết, cả những lá thư, bài thơ cậu ấy kẹp trong tấm bưu thiếp rất xinh… nhưng tớ vờ làm ngơ đấy thôi… Khi đi thực tế 20 ngày ở Huế, cậu ấy làm liều tỏ tình rõ to ngay sông Hương khi mọi người trên chiếc thuyền rồng xuôi dòng đêm trăng. Hôm ấy có chút mưa nhẹ, lòng tớ xao động nhưng chỉ cười xem như một chuyện đùa của một lãng tử với cô gái nhà quê - một cô gái nhà quê kiêu hãnh! Đến khi ra trường cậu ấy ca một bài vọng ngụ ý trách tớ rồi mượn chung rượu giả say để hỏi: “ Vì sao em không xiêu lòng trước tôi như bao nhiêu cô gái khác?”. Tớ chỉ cười… Định sẽ nói ra một lý do hợp lý nào đó tế nhị nhưng rồi lại nói thật: “ Đơn giản là tớ có người yêu rồi. Anh ấy đang đi học đấy thôi. Chúng tớ không gần nhau nên cậu không nhìn thấy…”. Thế là cậu ấy uống say đến mềm oặt. Bẵng đi một thời gian, cậu ấy gọi điện thoại hỏi thăm, giải thích rằng đã tìm thấy tớ trên một trang báo nào đó…
Cà Mau không có mùa thu, hoặc mùa đã đến nhưng qua nhanh đến mức chẳng kịp thấy gót chân để lại nhưng điều ấy chẳng hề gì và tớ cũng không cần vất vả vay mượn cảm xúc của một ai đó để rung động. Tán lá xanh ngắt kia, mặt sông ngầu đục phù sa này, con đường bốn mùa hoa cỏ dại vẫn thế… Thu ở đâu trong những con người tất bật với cuộc sống, nơi bến cá, trên bến tàu, gánh hàng rong, những dàn cá cao ngút đầu người của thị trấn cửa biển nghèo khó này? Thì tớ đã yêu mùa thu bằng tất cả kí ức, dự cảm và bất chấp những điều đang xẩy ra, những mùa đang chạm đến.
Cuộc sống dạy tớ biết mùa thu trong trang sách và mùa thu thực tế không giống nhau. Người ta cho mình cái quyền mơ mộng đấy thôi để con chữ thoát lên trong tâm tưởng những gì dịu dàng nhất.
Tớ có dịp đi nhiều. Điểm đến thường là những nơi heo hút, vắng lặng, nghèo nàn đến mức muốn tìm một chốn nghỉ đêm phải rã gối căng gân chân lục lọi các con đường và nếu tìm được một quán trọ đơn sơ thì lại thiếu mảnh chăn đủ ấm và chiếc quạt gió cũ kĩ vừa chạy vừa kêu đến nhức óc. Thế nhưng cậu sẽ có một cảm nhận khác, không sang trọng như những nơi cậu đến, cũng chẳng lộng lẫy xa hoa như thành phố cậu sống… Cảm nhận rằng mình đã hạnh phúc biết dường nào khi có chút kiến thức, được đi đây đi đó, được tự quyết định số phận của mình, được mặc trên người những bộ quần áo đẹp. Không như họ, đổi cả đời con gái để kiếm tiền xây nhà cho cha mẹ rồi gục chết ở xứ sở xa xôi bên Hàn, bên Đài. Một ngôi nhà Uôn ( tiền Hàn Quốc), nhà Đài ( tiền Đài Loan) mọc lên là có một kiếp người tha hương. Họ không bao giờ được đi xa hơn nơi họ sống đến vài trăm mét và cũng chẳng có khái niệm học hành để làm gì…Thế mà liều lĩnh ra tận nước ngoài để rồi có khi không còn cơ hội trở lại được nữa. Cậu sẽ biết chung rượu quê nồng ấm, chân thật như thế nào? Con người ta hiền như đất ra sao?...Họ không nghĩ nhiều đến những điều đã qua, cũng chẳng buồn lắm về thân phận mình. Y như người ra chặt củi đứt tay, vết cứa sâu cũng chỉ kêu “ Á” một tiếng, hỏi thăm “ Mày đứt tay hả”, “ Ừ” nhẹ hểu… Thế là xong. Những cái lọc lõi, man trá xin dành cho đô thị ! Mà có khi chính vì họ sống như thế nên khổ ải cứ sẵn chờ.
Vài năm trước tớ sến lắm. Sến đến mức chính tớ cũng không hiểu vì sao lại đến mức ấy! Bây giờ vẫn sến nhưng bớt cải lương để trầm tĩnh đón đợi mọi điều chầm chậm hơn. Gần nửa đời người, người ta không thể nhí nhảnh mãi được. Những điều đổi khác len lén đến, rất nhẹ nhàng như điều tất nhiên của cuộc sống cho phép ta chấp nhận một cách vừa phải.
Còn cậu, cậu khoẻ không? Nơi cậu dừng chân có còn tất bật? Đất nước cậu đến, những mùa đông cậu qua và những dự án tính bằng tiền đô có khiến cậu sống thong thả hơn để gánh nặng trên vai vơi dần đi…Tràng hạt thời gian lần qua đôi bàn tay… Cậu còn thảng thốt giật mình giữa không gian chuyển dần về sáng khi nghĩ về một điều gì đó đã xẩy ra trong quá vãng? Cậu vẫn chắt chiu trong khoảng thời gian hiếm hoi trong ngày một chút gì đó cho niềm xúc động để lắng lại, khi thành phố đã ngủ, cậu trong phòng của mình, trên tường căn phòng ấy chỉ treo duy nhất bức ảnh của nữ thành tự do.
Đời người như dòng sông, có khúc bồi khúc lở, có khúc ngoặt, khúc trải rộng mênh mông… Dòng sông đời người chở nặng phù sa - Những hạt phù sa li ti mà hàm chứa nặng tình bao ân nghĩa. Chúng ta cứ góp nhặt chắt chiu như thế, chắt chiu từ khốn khó, gom nhặt từ đổ vỡ để nâng niu, để chăm chút cho hạnh phúc rất thật mà ta đang sống... Dòng sông ấy đôi khi chao đảo, hẫng hụt nhưng vẫn có một bến đợi, bao dung theo năm tháng. Bến sông ấy có gặp gỡ rồi chia ly để rồi khi trở lại hai bờ chờ đợi đã một bên lở hoang hoác một bên vẫn đầy đặn nhớ mong.
Tớ muốn nói rất nhiều với cậu vào ngày hôm nay. Nhưng Admin ạ… Có lẽ chúng ta nên đứng dậy và ra về thôi… Cậu sẽ hiểu tất cả, những điều tốt đẹp tớ mong chờ đến với cậu…Tớ  hứa sẽ không hỏi cậu là ai cũng chẳng cố tìm hiểu cậu từ đâu đến. Vì khi tớ cần, cậu sẽ xuất hiện thôi.
Thung hoa vẫn vàng, mùa thu vẫn dìu dịu nắng….!
Nào, đứng dậy và ra về thôi
Hà My.

Miền ấm áp đang đợi tôi

26/03/2012 19:34  |  0 lượt xem
Thế giới phụ nữ - Số báo: 12/12 - Ngày phát hành: 26/3/2012
Miền ấm áp đang đợi tôi
Hạnh phúc như chiếc bong bóng xà phòng ngũ sắc lấp lánh nhưng chưa kịp chạm vào đã vỡ mất rồi...
Vào những thời khắc như thế này, mình thường rất khó ngủ. Mới chợp mắt đã giật mình ngỡ sáng nhưng thực ra đêm còn ru ngày ngủ. Xuân gần qua rồi nhưng trên cung đường đầy ổ gà và bụi của những ngày trước, mình vẫn thấy lác đác những bông mai vàng; cỏ vẫn đang thay màu mới, những loài hoa lạ bừng nở mà chẳng bao giờ ta nhớ hết tên được.
Dọc con đường đất khô hanh như đang vọng lên những tiếng nảy mầm tí tách, khu vườn lộc non đã khảm trên thân cây những chấm lấp lánh. Mọi người tất bật trong nhịp sống sôi động, ồn ào vẫn kịp hào phóng tặng nhau nụ cười và lời chúc tụng. Thiếu nữ e ấp khi chàng trai nhìn trộm vẻ tươi hồng trên khuôn mặt. Người mẹ trẻ ôm còn vào lòng, bầu sữa nóng ru bé vào giấc ngủ sâu. Mình thấy ấm áp, dù không rõ hơi ấm ấy từ đâu. Có lẽ một bếp lửa hồng luôn cháy đỏ sẵn có được chăm chút từng ngày. Để mỗi khi, dù lòng có lạnh đến mấy, mình vẫn thấy một nơi nào đó rất ấm đang đợi mình.
Mình từng nhủ rằng: Hạnh phúc rất thực với người này nhưng là ảo mộng với người khác, thấy hạnh phúc như chiếc bong bóng xà phòng ngũ sắc lấp lánh nhưng chưa kịp chạm vào đã vỡ mất rồi. Trải qua nhiều sóng gió, giờ mình mới hiểu, hạnh phúc như một cái cây ngoài trời, cần chăm sóc từ khi non nớt, cần trân trọng cho dù đã trưởng thành. Đừng đòi hỏi quá nhiều những thứ không thuộc về mình, quá xa với mình… Chỉ cần được sống trong không gian vừa đủ, một cảm xúc vừa đủ của cái chung, như thế đã là hạnh phúc rồi.
Cuộc đời vốn công bằng, kết thúc cái này lại là sự khởi đầu cho cái khác. Có một truyền thuyết về con chim chỉ hót một lần trong đời nhưng tiếng hót hay nhất thế gian. Có lần nó rời tổ bay đi tìm bụi mận gai và tìm cho bằng được mới thôi. Giữa đám cành lá gai góc, nó cất tiếng hót bài ca cuối cùng rồi lao ngực vào chiếc gai dài nhất nhọn nhất. Vượt lên nỗi đau khổ khôn tả, nó vừa hót vừa lịm dần đi và tiếng ca hân hoan ấy đáng để cả đàn sơn ca, họa mi phải ghen tị. Con chim mang chiếc gai nhọn xuyên qua ngực vẫn tuân theo một quy luật bất biến, không hiểu điều gì đã thúc đẩy nó tự đâm vào tim và lịm dần trong tiếng hót. Vào lúc gai nhọn xuyên qua, nó không ý thức được cái chết đang chực chờ. Nó chỉ mải mê hót và hót cho đến khi không còn hơi thở để cất thêm một thanh âm nào nữa.
Những gì tốt đẹp nhất chỉ có được khi ta chịu trả giá bằng nỗi đau khổ vĩ đại. “The Thorn Birds” có thể được xem là tiểu thuyết nổi tiếng nhất của nữ văn sĩ người Úc Colleen McCulough. Mình đã đọc bộ tiểu thuyết này khi chưa được gọi là thiếu nữ. Lúc ấy, mình hơn 14 tuổi, trái tim mình buốt lên khi chiếc gai mận xuyên tim nàng chim bé bỏng. Gần sát nhà mình khi ấy có một người đàn ông bẫy chim giữa muôn trùng mây, mình đã rất ghét ông ta. Tiếng chim khi sa lưới mới hốt hoảng, tội nghiệp, tuyệt vọng làm sao. Sau này, gặp những chuyện nhói lòng hơn thế nữa, mình mới hiểu được rằng khi người ta tuyệt vọng nhất là lúc người ta không nói được bất cứ điều gì. Ngay cả khóc, nước mắt như cô đặc lại thành một thứ đắng ngắt dội ngược vào tim. Mình đã rất ghét đàn ông cho đến khi biết yêu mới hiểu được chân lý giản dị rằng: Dù có mạnh mẽ thế nào, dù trong lòng tồn tại biết bao uẩn ức thì cái người đàn bà cần nhất vẫn là đàn ông!
Bay… cảm giác bay trên tầng trời không phải của mình vô cùng đáng sợ, trái tim nóng bỏng song những lưỡi dao của trí óc bén ngọt xén gọt không thương tiếc một bến bờ tưởng tượng. Chúng ta vẫn đi tìm sự cứu rỗi ở các đấng siêu nhiên mà ít nhận ra rằng đấng tối cao có quyền hủy hoại hay phục sinh một tâm hồn, một con người không ai khác chính là bản thân mỗi người.
Có thể đây là một câu chuyện không đầu không đuôi. Về mùa xuân  đang dần qua? Hạnh phúc? Nỗi cô đơn? Giữa muôn ngàn hữu hạn người đàn bà vẫn đến được với tình yêu, hạnh phúc…
NGUYỄN THỊ VIỆT HÀ    
P/s : http://www.thegioiphunu-pnvn.com.vn/Tin.aspx?varbaoid=1971&vartinid=11581&varnhomid=1

Thứ Tư, 21 tháng 3, 2012

PHÙ SA MẸ ẮP ĐẦY NGỰC BÃI BỒI CON

17/03/2012 15:01  |  337 lượt xem
Phù sa
Phập phồng thở
Em đặt gót chân son
Lên vết chân của người đàn  Lạc Việt
Mẹ cười như sông gió lộng
Khi con gái ôm vào ngực bãi bồi
*
Gió chướng
Dồn dập thở
Mùi lá mục, rạ rơm
Cánh đồng khẳng khiu đang chờ bật nụ mầm
Tóc mẹ hoa cau
Mẹ may áo mới màu lá sen
Tuổi con ngạt ngào cốm mới
*
Phầm phập
Cha cuốc đất sau nhà
Mảnh đất im hơi bỗng thở
Điệu khô muối phèn
Cải cà từ tay mẹ lên xanh
Giấc mơ con màu lá sen, ngực bãi bồi
Đôi tay người đàn bà Lạc Việt vun đất mềm như lụa.
Nguyễn Thị Việt Hà

Thứ Bảy, 17 tháng 3, 2012

PHÙ SA MẸ ẮP ĐẦY NGỰC BÃI BỒI CON

Phù sa
Phập phồng thở
Em đặt gót chân son
Lên vết chân của người đàn  Lạc Việt
Mẹ cười như sông gió lộng
Khi con gái ôm vào ngực bãi bồi
*
Gió chướng
Dồn dập thở
Mùi lá mục, rạ rơm
Cánh đồng khẳng khiu đang chờ bật nụ mầm
Tóc mẹ hoa cau
Mẹ may áo mới màu lá sen
Tuổi con ngạt ngào cốm mới
*
Phầm phập
Cha cuốc đất sau nhà
Mảnh đất im hơi bỗng thở
Điệu khô muối phèn
Cải cà từ tay mẹ lên xanh
Giấc mơ con màu lá sen, ngực bãi bồi
Đôi tay người đàn bà Lạc Việt vun đất mềm như lụa.
Nguyễn Thị Việt Hà

Thứ Năm, 15 tháng 3, 2012

CÁI BÓNG CỦA RỪNG

15/03/2012 17:34  |  2 lượt xem
Truyện ngắn: Nguyễn Thị Việt Hà
182675231_don_rung_3
 
1. Người ta đang giết rừng bằng cách đốn trụi tất thẩy các loại gỗ. Rừng hấp hối trơ xương. Em đứng giữa rừng, em khóc, áo sống em xộc xệch vật vã.
Ché Phương thoát khỏi rừng, lấy một ông tây về thành phố ở. Có Hoài chiều nào cũng dựa vào gốc bằng lăng lão dưới đồi thổi sáo, tiếng sáo buồn như chiếc lá rỗ vọng lên đồi nhà em nhức rát.Tiếng gió núi, tiếng mây ngàn, tiếng dòng suối, tiếng thung sâu, tiếng chiều về, tiếng trăng lên, tiếng lá rừng, tiếng sương khuya…. tất cả như dồn nén vào tiếng sáo ấy.Gốc vải già mọc rêu. Váy áo ché treo đầy nhà ngang sẩm nhìn sẩm khóc, em nhìn em nhớ, có Hoài đi qua con mắt dừng lại kiếm tìm. Cỗi bằng lăng làm em nhớ tiếng sáo có Hoài, nghe được tiếng suối róc rách, mắt tưởng tượng thấy cối gạo cụp cum cùng tiếng nước đổ òa, chỉ em về nhà,thấy mắt sẩm nước mắt sánh như mật, thở hắt ra:
-         Tiếng sáo của thằng Hoài làm hoa bằng lăng sậm tím. Nhớ gì cái đứa bỏ đi…
Nhưng người ta đã xẻ thịt nó, chưa đầy 10p cưa thân cây bằng lăng chừng hai người ôm đã nằm dài trên mặt đất, kéo theo hàng chục cây khác cũng bị ngã. Em chạy quanh, gào lên, gã đàn ông bắp thịt xoắn như thớ gỗ xà cừ trố mắt quát:
-         Con điên, phắn cho bọn ông làm. Mày điên à?
Con điên bứt nắm lá dập nát ném xuống suối chạy ù trong mưa tóc rối.  Em nhắn với ché Phương rằng người ta đã khai tử gốc bằng lăng, ché hỏi: “ Bằng lăng nào?”… Thì em  biết ché Phương đã chôn gốc bằng lăng từ dạo ché nói tiếng Tây nhiều hơn tiếng Việt. Thế nhưng cây bằng lăng lão dưới đồi ngày ché đi hẳng còn xanh um. Duy  nhất có  Hoài héo như cái mo cau. Tiếng sáo buồn như tiếng kêu con hoẵng lạc rừng.
Lòng Pá bạc như gốc cây hoa Đại. Pá bỏ sẩm đi khi em đã có hai chị gái, một anh trai. Pá không hề biết em đang lớn dần lên trong sẩm. Em ra đời không có pá, em gần bốn tuổi thì pá về mang về cho sẩm một đứa em trai mới biết bò tên Thường giống pá như hai hạt mưa. Chưa được năm tuổi pá bảo sẩm đưa em và ché Quyên cùng Thường về Hoàng Liên Sơn ( ngày ấy chưa tách tỉnh, giờ là Yên Bái) ở nhà chú Lợi. Nhưng pá không thật bụng, bụng pá như con chim Trĩ, pá để chúng em ở nhà cô Liên rất xa nhà chú Lợi – phải đi bộ một ngày đường và lội mười bảy con suối mới tới. Pá đi theo bố chồng cô Liên đánh sóoc đĩa suốt ngày, có khi cả mười hôm liền pá mới về.  Một lần đói rượu, pá đổi em cho một người ở Quy Mông lấy một lít rượu. Từ chỗ cô Liên đi tới chỗ người Quy Mông phải đi mất một ngày. Đường khó đi, nhiều suối, em cố nhớ được đường về mà trốn. Em ghi vào óc từng mét đất, đi qua ba rừng giang, bảy con suối, nhiều muỗi, vắt, rắn ghê lắm. Đường đến Quy Mông qua rất nhiều đồi bạt ngàn bông lau và chuối. Lúc ấy em luôn sợ mình sẽ quên đường về với ché với sẩm nên tập nhớ đường từ ngày ấy. Đến giờ thì tài nhớ đường của em như con nai nhớ lối về rừng, hình như em chưa gặp được ai nhớ đường  hơn mình dù đường xa, đường khó đến mấy… Rồi cô Hà ở Hà Nội lên Hoàng Liên Sơn mua quế và đánh bạc, ché Quyên nhờ mãi cô mới chịu gửi thư cho sẩm kể chuyện pá đổi em lấy rượu. May mắn là thư đã tới tay sẩm. Sẩm mới sinh em út đặt tên Trường chưa được hai tháng Pá cũng không hề biết. Sẩm bán thóc non lấy tiền đi tàu về Hoàng Liên Sơn đón chúng em. Sẩm thả em Trường cho cô Liên đi tìm người Quy Mông, lậy họ, đền rượu, đền gà xin mang em về.  Pá đi đánh bạc, không biết sẩm như con trâu cái pá cột bứt dây tìm con.  Rồi sẩm đưa em và ché Quyên về, còn em Thường – con trai của riêng pá, sẩm không đủ sức để đưa về nữa để lại cho cô Liên. Sẩm bế em Trường còn ché Quyên ôm quần áo, em ôm mấy nắm cơm cô Liên nặn cho, và đi… Em Thường chưa nói được nhiều nhưng lẫm chẫm chạy theo khóc gọi sẩm mãi, chân sẩm bối rối như quấn dây mây nấp ở bụi cây, sẩm khóc như con khỉ bị người ta bắt con. Về Yên Thế, những ngày em hạnh phúc nhất là những ngày vắng pá, em lớn theo cây vải, đi học với chúng bạn và quên đi những điều về pá như quên đi những điều xấu xa tồi tệ. Năm sau pá đưa em Thường về. Thường như người rừng và khờ khạo. Đôi mắt Thường hoảng hốt như con thú nghe tiếng súng săn mỗi khi gặp người lạ. Em không thể nói như một đứa trẻ bình thường mà nói rất khó khăn. Đến 15 tuổi Thường vẫn còn nói lắp. Sáng khi con chim đập cánh đầu nhà cất tiếng gọi mặt trời, sẩm đánh thức Thường dạy sớm, bảo Thường vục mặt xuống vại khô tập nói. Thường tập nói mãi trong vại khô đỏ cả mặt cho đến khi nắng đã rõ sẩm mới cho thôi. Rồi sáng nào cũng vậy. Phải đến ba mùa vải Thường mới không còn nói lắp nữa, cũng không giống người rừng.
Pá chỉ biết uống rượu, đánh bạc, đánh sẩm với chúng em thôi. Có lần pá lấy tiền đi đánh bạc sẩm không cho, pá cột tóc sẩm vào chân giường mà đánh, bắt mấy chị em ngồi quỳ xung quanh cấm không đứa nào được khóc hay la hét, nếu có tiếng kêu thì sẩm sẽ bị đánh tiếp. Chúng em chỉ biết nhìn và sợ hãi thôi. Lấy được tiền, pá cười nghạo nghễ đi.  Tháo dây cho sẩm, sẩm ôm chúng em khóc. Có khi nửa đêm mấy sẩm con đang ngủ người ta đến đuổi đi vì pá đã gạ nhà thua sóoc đĩa. Lúa gặt về mới suốt xong người ta mang bao tới cân bảo pá thua bạc. Sẩm nhìn theo những bao lúa tươi, mắt loang nước, giọng méo đi lẩm bẩm: “ Giàng ơi, giàng cho ông ấy đi xa quả núi này, ngọn đồi này, qua suối, qua khe tránh xa sẩm con tôi…Giàng ơi…”.
Em không biết người đó là pá của chúng em hay là kẻ thù đáng căm hận nhất cuộc đời này. Pá để lại cho chúng em nỗi ám ảnh sợ hãi bởi những trận mưa đòn, và sự nhục mạ khủng khiếp… Hồi ấy em luôn cầu mong sẩm có thể mạnh mẽ để bỏ pá hay công an hãy bắt pá vào tù nhốt thật lâu hay ai đó cứ mang pá đi thật xa, xa mãi không bao giờ trở về nữa. Nhưng không phải vậy, pá chỉ đi lên Trại Cau – Thái Nguyên để đánh bạc và uống rượu, chơi gái, lúc nào thích thì về nhà đòi tiền sẩm và đánh đập chúng em. Em mười một tuổi, lần thứ hai pá bán em bên chiếu bạc lấy 140.000 đ cho pá bạn Cần đưa đi Trung Quốc để pá có tiền đánh bạc. Khi em bị đưa lên xe thì Cần -  bạn học chung lớp với em đã khóc xin pá bạn ấy đừng đưa em đi:  “Thìn  không muốn có bố mẹ giàu hơn đâu, bạn ấy học giỏi lắm, cô giáo thương bạn ấy lắm, mẹ bạn ấy đang làm cỏ lúa ngoài kia kìa, pá bán lại cho mẹ bạn Thìn đi”. Hồi ấy ở quê luôn rộ lên chuyện đưa trẻ con ra Trung Quốc mổ lấy nội tạng  mà thật hư thì không ai biết. Pá bạn Cần mở cửa xe bế em sang xe Sim Son đưa về nhà. Sẩm thương con như con mèo thương con, ai muốn bắt thì bắt không biết dành lại hay bảo vệ. Có Hoài thương ché Phương, pá bảo có Hoài nuôi lớn hai con ghé thành hai con trâu mộng sang đổi ché Phương thì pá cho không. Nhà có Hoài nghèo chẳng có trâu, có nghé. Có Hoài đi rừng đi rẫy, trồng vải. Có Hoài quen thuộc từng gốc măng, canh người lạ không chạm đến rừng. Người dân tộc chúng em yêu cái rừng, cái rẫy như yêu cái nhà, cái bếp nhà mình không ai giết rừng đâu. Vải chín đỏ cây nhưng rẻ như mớ củi bán được rất ít tiền. Chiều chiều có Hoài dựa gốc bằng lăng thổi sáo, pá rú đông đổng :
-         Cái thứ cú vọ đang hú đầu ngõ nhà tao đi đâu thì đi đi. Tao lấy nỏ tao bắn chết.
Ché Phương chạy vào nhà ngang bật khóc. Ché đẹp nhất bản. Da trắng như hoa mận, môi thắm tươi như hoa đào nở hồng vách núi, đôi cánh tay đánh đường xa dẻo như cơm nếp, tóc búi cao thành búi, váy áo nồng nàn mầu mây núi. Sẩm đụn rơm quấn quanh nồi cơm, bê xoong cám lợn gấp đôi người đặt lên bếp, em thấy sẩm khóc như thóc nở bắn ra từ đụn rơm bén lửa. Em lén xuống đồi dối có Hoài rằng ché Phương không thích nghe sáo đâu, có Hoài mua ghé về nuôi đi rồi sang đổi ché Phương. Bỗng thương cây sáo có Hoài cầm trên tay. Tiếng sáo gọi chim rừng về tổ, gọi mặt trời xuống núi, gọi vải chín đúng mùa nhưng không gọi được ché Phương xuống gốc bằng lăng với có. Mười lăm tuổi, mắt em lung liêng,  nụ cười em thơm giòn như nắng nhưng có Hoài không thấy, có Hoài chỉ biết mỗi ché Phương.Có Hoài buồn như đám lá mục trong rừng bảo em mang túi quả trám cho sẩm kho cá diếc có vừa bắt ngoài suối. Em nom theo bước chân có Hoài không về nhà mà lội ngược lên rừng. Sẩm với chúng em không được ăn cá diếc kho trám đâu, pá nhắm rượu một mình một mâm. Em Thường chui vào nhà ngang lắp bắp hỏi sẩm:
-     S..ao..s…ao… m..ình…khô..ng…được…ă…n ..cơ..m… c..á.. kho…hả…s…ẩ..m?
Pá ném hột trám vào em Thường gầm lên:
-         Tiên sư nhà chúng mày không biết ta đang nhắm rượu à?
Ché Phương bỏ nhà đi lúc nào trong nhà không ai biết. Ché chỉ mang theo chiếc váy có nhiều dây đăng ten lần bán vải dưới xuôi ché mua còn để lại hết váy áo của người Nùng. Sẩm chạy bằng bốn chân hú gọi ché. Tiếng bước chân của có Hoài nện vào núi băng băng, tiếng có Hoài xao xác như tiếng cánh chim thấy động bay lên. Pá dốc cút rượu vào miệng văng lời:
-         Cái giống lợn cái đi tìm lợn đực, khóc gì? Đỡ tổn miệng ăn… Mất toi cặp trâu mộng.
Có Hoài thổi sáo, tiếng da diết như con hoẳng gọi rừng.Buổi chiều ấy.  Mưa phùn. Gió bấc. Em tìm có Hoài. Có ngồi thổi sáo bên đầu nguồn sông Thương. Có ngừng thổi sáo, hỏi em  đầu ngõ bằng lăng sáng nay còn trổ đoá hoa muộn, ché Phương có biết đường về? Em dằn dỗi bảo ché Phương chẳng thèm nhớ hoa bằng lăng đâu, chẳng thèm nghe tiếng sáo vọng để trở về. Có Hoài im lặng thổi sáo. Nước sông Thương vô tình ngủ lịm trong heo may hiu hắt. Ché Phương đi độ ba tháng, có Hoài không thổi sáo nữa. Cũng không ai đưa trám với cá diếc cho em đem về sẩm kho pá nhắm rượu còn em quét đít nồi ăn với cơm. Người trong bản kháo nhau có Hoài bỏ đi làm ở Bình Phước lấy cớ tìm ché Phương mặc cho ché Phương chê trai bản. Rẫy nương vắng có Hoài cỏ mọc lún đầu, rừng vắng có Hoài bị chặt trơ gốc. Rẫy vải có Hoài lười ra quả, trổ chùm thưa nhỏ như quả nhãn. Em đi qua gốc bằng lăng thấy có vết mòn lưng có Hoài dựa vào, vắng tiếng sáo hoa bằng lăng đến mùa bớt tím. Em sờ tay vào vết lõm như thấy còn ướt mồ hôi có Hoài, ướt nước mắt có Hoài khi không có trâu đổi ché Phương. Bụng em nao nao nhớ tiếng sáo…Nửa năm thì ché Phương thư về bảo ở Sài Gòn, có ông Tây cưới ché, thương ché lắm. Ché bảo em gặp có Hoài bảo đừng tìm ché nữa, ché không bỏ phố về rừng đâu. Ché Quyên thở dài nói nhỏ như tiếng lá khô vỡ:
-         Ché mà được người  yêu như có Hoài  thì chẳng bỏ rừng đi đâu…
Em nhìn ché Quyên lạ lẫm, cái hồn ché Quyên chẳng nhẽ bị tiếng sáo có Hoài bắt đi ư? Tiếng hát ché Quyên chao nghiêng sóng nước sông Thương  Bằng tuổi ché, gái bản có con cõng sau lưng, con dắt theo tay.Có Hoài ơi, theo con trăng về bản đi… Hoa nhà mình nở sàn nhà khác mất rồi.
***
2. Sẩm như con hến, im lìm. Có lần em bị pá đánh dập hai bắp chân vì tội không cho pá đem váy áo ché Phương mua cho em đổi lấy rượu, sẩm trông thấy nhưng không dám ngăn pá, chỉ đỏ mắt như con nhím xếp hết gai bất lực nhìn con bị đánh. Em giận sẩm rất lâu, ngoài mời sẩm trong bữa ăn thì em không hề nói với sẩm điều gì, cả việc cô giáo nói mời phụ huynh đi họp em cũng không nói…. Nhưng em thương sẩm lắm. Hồi em với ché Quyên đi học về sẩm mới bừa xong bãi trước nhà để trồng lạc, khắp người sẩm ướt đẫm, mặt đỏ bừng, sẩm chỉ kịp tháo bừa ra, gọi ché Quyên xem trâu vì trâu đi mượn. Sẩm vào nhà không kịp bỏ nón ra ngã xuống. Em và em Thường, em Trường gọi sẩm mãi không được. Em chạy sang nhà dé Tòng khóc gọi :
-         Sẩm cháu chết rồi cứu sẩm cháu dé Tòng ơi.
Dé Tòng chạy sang nói:
-         Sẩm mày cảm rồi, lấy thau nước nhanh lên.
Em chạy ra giếng múc nước chân vấp ngã chảy máu, dé Tòng lột áo sẩm ra bẹo thâm tím hết lưng và trước ngực, ngực sẩm beo như quả chanh héo thương ơi là thương, dé Tòng giục pha nước chanh. Nhưng nhà làm gì có đường sẵn, em Thường chạy mãi vào làng xin đường về pha nước cho sẩm. Một lúc sau sẩm tỉnh lại thấy mấy đứa em khóc, sẩm nói:
-         Sẩm không chết đâu, các con đừng khóc. Sẩm mệt nên ngủ tí thôi.
 Em thấy thương sẩm hơn bao giờ hết và ân hận vô cùng. Từ đó em biết rằng chúng em sẽ không thể lớn lên nếu thiếu sẩm. Em càng căm hận pá, pá như con tinh tinh phát cuồng, như con hổ đói sẵn sàng xé thịt bầy con, em chỉ ước có tay thợ săn nào giương nỏ cắm phập tên vào ngực pá hoặc là chính em sẽ cầm rìu bổ vào pá. Ngày chủ nhật em đi bán củi rất sớm, ra chợ em gửi ché ở xã bên bán giúp còn em đạp xe một mình đi tìm pá với cái rìu chằng sau yên xe. Em đạp lên rất nhiều dốc, đường xa chín lần con ngựa mỏi, gần trưa tới Trại Cau ( ở đó có rất nhiều người đi đào vàng từ khắp nơi đổ về, có cả gái và thuốc phiện, để phục vụ cho những ông chủ có tiền, những con nghiện thuốc, nghiện bạc và chiêu đãi cho lính đào vàng  khi trúng quả đậm).  Em vào từng lán tìm pá, người ta không cho vào em cứ đi. Bị người ta bạt tai, đá đít, đau lắm. Em  vừa đi vừa khóc, vừa chửi, vừa gọi :
- Pá ơi về đi sẩm sắp chết rồi.
 Người ta thấy tội chỉ cho lán có pá ở trong. Thật khủng khiếp khi em nhìn thấy cảnh tượng pá em nhồng nhộng hì hục cày lên người đàn bà to gấp hai sẩm em. Em bửa rìu lung tung trước cửa lán, chửi ầm ầm:
-         Lũ chó chết chúng mày đáng chết hết!
 Em quăng cái rìu vào trong đấy và không biết làm gì nữa. Pá không cả kéo quần cứ thế gầm lên chạy ra ngoài tát em mấy phát như trời giáng. Em đau. Khóc và bỏ chạy, pá lôi em lại xô em ngã chầy mặt, dúi em vào cái nơi pá đã cùng sẩm sinh em ra, cái nơi pá vừa hì hục trồng cây chuối nơi đám lầy của mụ đàn bà mà chửi, đuổi rồi ném em ra bãi đá gần suối:
-         Cút mau. Tao chém chết. Về với con sẩm già héo xơ mướp của mày đi.
Em bò dậy chạy vào lán, luồn qua háng pá nhặt cái rìu. Mụ đàn bà hẩy vú, nhẩy đổng vỗ bồm bộp vào cửa mình hất về phía em mỉa mai:
-         Sẩm mày bằng cái này của tao không? Pá mày bảo vú con sẩm già nhà mày phẳng như đường cái quan ấy. Háng sẩm mày cạn như con suối khô ấy…
Bọn họ cười xồng xộc rất ghê rợn.
Hôm ấy rất muộn em mới về nhà, sẩm không biết cứ tưởng em bán củi ế, thấy mặt em sưng, xướt xát sẩm nghĩ bị ngã xe. Sẩm không hỏi em có đau không mà hỏi:
-         Xe có sao không?
 Em thấy tủi thân nhưng không trách sẩm, nhà cũng có cái xe là giá trị nhất nó hỏng thì tiền đâu sửa, xe đâu đi bán? Em tự trách mình sao không khỏe mạnh để cầm rìu bổ chết những con người đốn mạt đó. Treo cây rìu lên gác bếp, em nhủ sẽ có lúc em dùng rìu để băm nát con tinh tinh phát cuồng Pá em.
***
3. Vài năm sau, Pá không dám về nhà đánh sẩm, đánh chúng em nữa, vì có tài Giang ra quân đã là một Đảng viên làm cán bộ cho xã. Bãi vàng Trại Cau cũng hết rồi, pá vào Cây Vối  sống với một người đàn bà bất thường ( người ta nói bà ấy bị điên) với hai đứa con riêng của bà ta. Nghe đâu sau này có với pá hai người con nữa. Người trong bản kể lại với sẩm có trông thấy pá thất thểu xách chai rượu không lên rừng, định chào một tiếng thì pá đã mất hút trong mấy rặng cây, nhìn thấy cái bóng mà không thấy người. Pá như con ma xó mất rồi.  Pá đã bị Giàng trừng phạt. Con ma nó không cho Pá làm người đâu, phải bỏ đi không dám chạm mặt người ở bản đâu! Sẩm nghe, mắt đỏ hoe không nói gì còn em thì lòng tịnh không chút xót. Từ đó, sẩm cử động như một cái bóng âm thầm trong nhà ngang, em có cảm giác sẩm cố sống cho hết kiếp người. Sẩm còn thương nhớ cái con người đã làm sẩm khổ cả đời ư? Pá bị ma bắt rồi, sẩm ấm cái bụng, thảnh thơi cái đầu sao sẩm lại buồn? Sẩm đi tìm pá, em thương sẩm đi theo. Nhưng ở Cây Vối người ta kể không ai biết người đàn bà thất thường với pá đã bỏ đi đâu. Hỏi mãi mới có người ở cuối bản nói, pá dắt người đàn bà nọ cùng bốn đứa con như búp măng ghẻ đi về phía dẫy đồi cao nhất Cây Vối nhưng pá không phải là người đâu, pá không nói được tiếng người nữa, con mắt pá như mắt mèo hoang rồi. Em về lấy cây rìu vẫn treo lên gác bếp quăng xuống sông Thương… Hận thù trong em tan như đám mây trắng trên đỉnh đồi kia rồi.
Mười tám năm em thấy ông mặt trời đi qua đỉnh cây bằng lăng lão. Ba năm có Hoài bỏ đi.  Rừng cũng chạy xa bản  khi người xuôi vào tìm gỗ, nhận đồi trồng vải, trồng bông. Chừng ấy năm, con nai, con hoẳng nhớ rừng ra sao thì em nhớ tiếng sáo có Hoài bấy nhiêu. Nhưng có Hoài như cái bóng của rừng, lùi xa, lùi xa mãi. Người ta không giữ nổi rừng như có Hoài bỏ đi, như em ngày đólà đứa quay xa dẻo nhất, đứa dệt vải hay nhấtnhưng không thể nào giữ tiếng sáo bên gốc bằng lăng dưới đồi. Mà ngay cả cỗi bằng lăng cũng đã bị người dưới xuôi biến thành cái bóng, nhựa trăm năm tứa ra tràn trên mặt gỗ bị cưa…
Rừng có Hoài ngày đó trông giờ lởm chởm như cái đầu trẻ con cắt đầu đinh bị hỏng… Rừng như cái bóng càng ngày càng lùi xa pá em biết ẩn vào đâu…
Sẩm em, khi con chim đập cánh đầu nhà cất tiếng gọi măt trời lủi thủi trồng những cây con trên đồi trọc.
·* Chú thích: Có: anh; Có tài: anh cả; Ché : chị; Sẩm: mẹ; Pá : Bố; Dé : Bác
( Phương ngữ dân tộc Nùng)
Cà Mau, cuối năm 2011.
Nguyễn Thị Việt Hà.
Nguyễn Thị Việt Hà
P/s: Truyện ngắn dự thi Tuần Báo Văn Nghệ năm 2011 - 2012. Đã xuất bản trên Văn Nghệ Trẻ số 11 ra ngày 10 tháng 3 năm 2012

Thứ Ba, 13 tháng 3, 2012

THÁNG BA HOA GẠO ĐỎ...

Dì gọi điện kể ở quê cây gạo gần trăm tuổi cạnh ngôi Miếu Dục Quang cổ năm nay hoa nở sớm, cứ rừng rực đỏ chói. Nhìn hoa gạo dì nhớ ba đứa cháu ngày còn nhỏ dắt díu nhau xin cháo thí mỗi đợt cúng miếu. Các cụ trong làng nói trẻ con ăn cháo thí sẽ thông minh, mau lớn.
Mẹ kể khi bà sinh ra mẹ cây gạo đã ở cuối làng rồi. Nó sừng sừng đứng đó, đơn độc nhưng vững trãi. Bên cạnh gốc gạo có cái ao to, sợ trẻ con mải chơi ngã xuống người lớn hay doạ: “ Thần cây đa, ma cây gạo” nên ngày ấy đi đồng về muộn chúng tôi cứ ù té chạy khi đoạn đường về nhà phải qua cây gạo… Tháng nối tháng, năm nối năm, chẳng thấy có con ma nào hiện ra chỉ thấy gốc gạo thân thương gần gũi  trầm mặc to lớn mấy vòng tay ôm trẻ con đứng im nơi đó toả bóng mát cho bầy trẻ chơi đùa rồi chải chiếu nằm lăn ra ngủ giấc trưa, bầy sẻ cũ năm nào cũng đến hót vang trời.




 
Tháng ba, những cành khẳng khiu bật ra màu hoa đỏ như lửa tiễn cái rét nàng Bân. Bầy sẻ có thêm bạn sáo, chèo bẻo, chào mào ríu rít. Trẻ con bọn mình đi học về theo đường tắt bờ đê qua ngôi miếu cuối làng rồi ngồi nghỉ bên cây gạo, nhặt hoa uống mật sóng sánh nơi cuống hoa ngọt lừ. Bọn con gái hứng chiếc nón lá chờ gió thổi hoa gạo rụng còn bọn con trai dùng súng cao su thi ai bắn được nhiều hoa gạo nhất. Người lớn nhìn cây gạo nở hoa mà biết sắp vào mùa cấy. Mẹ tôi hay đứng nơi ấy, mỗi buổi chợ xa, mắt nhìn về phía con đường ngược về phương Nam trông đợi điều gì mà chị em tôi gặng hỏi mãi mẹ mới nói: “ Lối ấy, ngày xưa cha đến hỏi cưới mẹ…”. Tôi nhặt những bông gạo tươi nhất đặt bên bậu cửa sổ, biết đâu hoa biết thắp lửa soi đường cho cha tôi trở về.
Tháng ba, những ngày mưa bão, cây gạo đứng lặng một mình trơ khấc khoảng trống cuối làng, gió giật tung những búp lửa, tưởng cây gạo xù xì mốc meo những cành và thưa thớt mấy chiếc lá hình chân vịt nhưng chẳng phải thế. Chỉ mấy ngày thôi, sớm kia thức dậy đi học ngang qua ngôi miếu cổ, tôi đứng sững lại khi cả ngàn nụ hoa đã lấp ló ánh đỏ đợi nắng xoè cánh rực rỡ. Hết mùa hoa những quả gạo hiện ra đầy đặn, mup múp, quả già bung nở một trời những bông trắng ngần như hạt gạo. Người ta còn gọi hoa gạo là Mộc Miên, Hoa Lửa nhưng tôi thì chỉ thích gọi cái tên quê mùa nhưng chứa cả ngọt bùi lẫn nồng nàn giọt mồ hôi của người đồng đất. Hoa gạo, thì chỉ là hoa gạo thôi.
Những mùa hoa gạo cũng lần lượt đi qua trong lặng lẽ, tủi hờn của mẹ. Rồi như hoa gạo, cháy đến kiệt cùng rồi mẹ tôi nằm lại đất thanh thản khép những đợi chờ. Làng tôi nhiều thay đổi, luỹ tre bao bọc làng bị hạ xuống để thoáng đường bê tông, nhiều ngôi nhà cổ bị phá đi để thay vào đó những ngôi nhà cao tầng, kiên cố nhưng cuối làng vẫn ngôi miếu cổ tháng ba các cụ nấu cháo thí phát cho bọn trẻ con và cây gạo bao dung bật lửa gọi lúa lên xanh đồng.
Nguyễn Thị Việt Hà
P/s: Thời Nay số 226 ra ngày 12 tháng 03 năm 2012

RÁNG CHIỀU RỰC ĐỎ

RÁNG CHIỀU RỰC ĐỎ
Truyện ngắn của Nguyễn Thị Việt Hà.
Ả quyệt mồ hôi vương trên trán, cái bụng vượt mặt nặng nề.
- Ai bánh còng, bánh cam hôn?
Không một thanh âm vọng lại. Vài đứa trẻ lem luốc nhìn xịa bánh thèm thuồng. Bóng ả hắt xuống đường. Tiếng rao của ả bị nuốt chửng và trôi tuột xuống dòng sông nước lờ nhờ. Mùi mặn ngai ngái của muối biển, mùi tanh của cá phân phơi ngoài bãi xộc lên làm ả muốn ói.
Ả mệt nhọc bưng bụng chậm từng bước dưới nắng chiều. Bà chủ quán bún mắm réo:
- Vô đây tí coi?
- Tui không ăn bún.
- Bụng tụt vầy chắc sắp sanh ta ơi.
  Ả e dè ngồi sát mép băng ghế gỗ. Đó là cái quán bún mắm dựng lên bằng chòi lá sơ sài cuối thẻo đất xóm đảo. Mùi nước lèo thơm lựng, ả lần mấy đồng bạc lẻ nhăn nheo, có cả thẩy là tám ngàn đồng, không đủ tô bún. Ả tần ngần  xếp phẳng phiu mấy tờ tiền rồi ấn sâu vào túi. Nước miếng tứa ra, ruột gan cồn cào. Ả đói…Người đàn bà nhỏ thó, cũ kĩ trong bộ bà ba nhàu nát y như cái quán của mụ dòm ả, chép miệng hỏi:
- Đói hôn? Ăn tô bún nghe bây?
- Tui nói rồi tui không ăn bún. Sáng giờ bán được có 8 cái bánh cam hà.
- Ai bắt bây trả tiền. Tao làm cho tô nghen.
- Thôi, tui đi à -  Ảvội đứng dậy bưng xịa bánh.
 Người đàn bà ấn ả xuống, dịu giọng:
- Tao thấy bây bụng mang dạ chửa, tao thương. Bây sợ mắc ơn thì tao đổi tô bún lấy mấy cái bánh cam. Tao ngán bún, ăn bánh cam trừ bữa. Bây cứ ngồi.
Khác với vẻ nhếch nhác khi nẫy, người đàn bà nhanh nhẹn cời lửa cho nước lèo sôi ngùn ngụt rồi chan vào tô bún cho ngập nước. Sau đó xếp cá thêm lát thịt ba rọi, vài con tép bạc, kèm theo rau thơm, giá sống, bắp chuối, rau muống chẻ nhỏ, nước mắm ớt nguyên chất, vắt thêm tí chanh. Sau đó mụ chan nước lèo lần hai.  Ả rưng rưng dòm tô bún, dễ cả năm ả chưa được ăn ngon như vầy.  Ả nói nhỏ nhí:
- Tui ăn à. Mơi bán có tiền tui trở lại trả chị.
- Tiền bạc gì bây ơi. Tao đổi bánh ăn chớ đãi đằng chi. Ăn đi cho nóng.
Ả đói ăn không kịp ngửa mặt. Ráng chiều đỏ rực hắt xiên ngang quán, ả húp cạn đến muỗng nước lèo sau cùng, đưa tay quyệt ngang mặt lau mồ hôi túa ra tròn như hột đậu khắp mặt. Ả nhìn mụ chủ quán hàm ơn. Người đàn bà cười hềnh hệch xuề xòa.
- Chị bán đỡ hôn?
- Hên xui bây.
- Sao cho tui ăn bún. Lỡ tui giựt…
- Tao thấy bây qua đây từ sớm, giác giờ bánh chưa hết chắc đói, tao kêu. Đàn bà chửa mau đói lắm, tao biết.
- Ờ, chị lấy thêm mấy cái bánh ăn nhen. Tui đi bán cho hết.
 Ả gói mấy cái bánh đưa mụ chủ quán tốt bụng rồi bưng xịa bánh rao, tiếng rao có vẻ phấn chấn hơn lúc trước. Ráng chiều đỏ rực như cố thu tất cả rực rỡ  nắng của ngày trước khi lụi tàn để màn đêm xâm lấn  hắt lên người ả . Phía sau, người đàn bà thở dài đánh sượt nói trỏng :
- Cái thân vậy đó mà thằng  ác nhơn nào hiếp con nhỏ tới mang bầu.
 Ả là con cái nhà ai, từ đâu đến, ả bao nhiêu tuổi? Không ai biết! Chỉ biết ả có cái tên cũng phiêu du: Phấn. Chỉ biết ả đã lớn lên cùng với cây cối xung quanh, những con vật thân thuộc và dễ nuôi như con gà, con chó và cả mấy con chuột thậm thụt dưới ruộng. Người ta thấy ả làm đủ thứ hết bán xôi, bán nước ở cổng trường học, tìm mua ve chai, làm bánh cam bán dạo khắp thôn cùng ngõ hẻm…
 Phấn có khuôn mặt đẹp, da trắng sứ, tóc đen tuyền, môi mọng đỏ. Khốn nạn thay khuôn mặt đẹp ấy lại đậu trên đôi chân cong vòng teo tóp như hai nhánh cây khô, muốn di chuyển ả như con tôm cong người bật về phía trước. Ai nhìn thấy ả cũng cũng ám ảnh, buông thỏng một câu “Trời đày!”. Nhà ả ở mẩu đất thừa cuối chợ, kế bãi rác. Nói là nhà cho sang chứ đó là một cái chòi được quây bằng mấy miếng tôn thiếc tạm bợ chừng 10m2, mái lợp lá dừa. Cũng chẳng biết đâu là cửa ra vào, chỉ có một khoảng trống phía trước để có thể phân biệt ngoài trời và trong nhà được che bằng tấm liếp đan bằng cây sậy. Cả đời Phấn chưa bao giờ được sống trong ánh đèn điện, chỉ nhìn thấy ánh sáng bừng lên trong những căn nhà của hàng xóm. Tài sản ả có là chiếc nồi nấu ăn, hai cái chảo, vài cái thau, cái cối xay bột, mấy cái bát đũa đã sứt mẻ và  tấm ván ngựa mỏng tang kê cao thay cái giường nằm.
 Không bạn bè, không người thân, Phấn cứ tồn tại như một trò đùa của tạo hóa. Cuộc sống của ả cứ lặng lẽ trôi đi, hệt như con thuyền cứ hàng ngày từ lạch sông ra quãng vắng. Dù vậy, ả cũng không được yên ổn. Chẳng là chòi của ả tận dụng thẻo đất thừa cuối chợ tự phát để dựng nhờ chứ chẳng phải đất của ả, nửa cục đất chọi chim ả còn không có nói chi đến đất dựng nhà. Ngặt nỗi cái chợ ở gần nhà văn hóa của xã nên người ta lấy đó làm chướng mắt. Ả không có cái hộ khẩu nên không được xét cấp sổ hộ nghèo. Mà biết đâu chừng có cái sổ ấy người ta thương tình xét cất cho Phấn cái nhà, ả không phải lăn lóc ở cái chòi chật chội này, cũng không lo ngày nào chính quyền cũng đến động viên ả dỡ cái chòi đi cho đỡ bầy hầy, dù cảnh quan ấy được đống rác nằm chình ình đầy ruồi nhặng chuột, mèo chết, chó chết được quăng ra đấy, bốc mùi tanh thối áng ngữ. Đêm nằm mơ, Phấn không dám mơ gì nhiều, ả chỉ mơ mình có cái sổ hộ nghèo… Phấn nhiều lần phát hoảng và thương hại cho cuộc đời mình, nghèo đói đến thế là cùng. Phấn không bao giờ biết đến lễ tết, giỗ chạp. Nhưng điều đó không làm ả khổ sở bằng sự cô đơn.
Phấn không nhớ mình đã bao nhiêu lần nghẹt thở, quằn quại như chính ả bị đẩy vào giữa những câm lặng đau đớn miên man. Ban đầu ả dẩu mỏ nhổ toẹt ra vẻ kinh tởm cái cảnh trần tục, bản năng hoan lạc của những cặp tình nhân, nhưng ả nằm không yên, nghiêng đầu ngó vào lỗ đinh đóng tuột của miếng tol dòm người ta tình tự nhau như thế nào. Xóm biển không thiếu những quán nước nhưng có lẽ do cái nghèo bó lấy hoặc cái u uất, tối tăm ở góc chợ hợp hơn với tình yêu người nghèo chăng? Hay tại  bãi đất trống được tận dụng làm cái chợ nhóm này vắng vẻ? Phấn vô thức lần giở từng nút áo, trong tiếng rên rỉ của đôi trai gái đang cuộn vào nhau, rất nhỏ nhưng đánh động mọi cảm giác của ả. Phấn ưỡn ngực bóp chặt vào hai bầu vú tròn căng, mắt nhắm nghiền, lăn tròn trên sạp . Đôi chân ả quẫy đạp trên đám giẻ rách mà ả cố vá víu thành áo quần. Nhói. Một cây đinh đứt đầu lòi trên tấm sạp đâm vào chân. Phấn lần đến đôi chân, giật thót mình như vừa chạm phải vật gì ghê tởm lắm. Đôi chân khèo, khô quắt, cong vòng một cách kì dị, những ngón chân không thành hình thù của bàn chân mà như móng vuốt của loài mãnh thú. Phấn giật mình. Phấn xé tung quần áo và bật khóc thương cho cái thân của ả. Mọi thứ bung tỏa, vụn vỡ. Nỗi cô đơn hành hạ ả thống khổ cả tinh thần và thể xác. Những tiếng vọng hoan lạc của đôi thể xác từ cuối góc chợ ẩm ướt, hôi bẩn, tăm tối không hề gợn cho ả cái cảm giác nhầy nhụa mà như những âm thanh diệu kì nhất, hay ho đẹp đẽ nhất mà ả thèm khát.
Xóm chợ có thêm một cư dân mới. Đó là một gã trai vạm vỡ, đầu tóc gọn gàng, hắn làm nghề bốc vác. Hắn hay cười, hở hàm răng vàng xỉn do hút thuốc lá nhiều. Mấy cô bán đồ tươi thích ghẹo hắn, thích mướn hắn vác hàng, ngoài tiền công còn “bo” thêm ly café hoặc bao thuốc lá. Mấy người già thích bởi hắn thiệt dạ, có việc gì cũng nhiệt tình phụ giúp. Tuyệt nhiên hắn không bao giờ lớn tiếng dù có bức xúc đến đâu đi chăng nữa hắn cũng chỉ cười trừ . Ban đầu người ta tưởng hắn ít nói, hóa ra hắn câm. Nên người ta gọi hắn là “ Câm” riết thành cái tên luôn .
Ban ngày hắn làm lụng siêng năng, ban đêm hắn về chải cái chiếu trên thớt thịt ở chợ nằm ngủ. Hắn um mấy miếng vỏ dừa xua muỗi. “ Nhà” ả ở cuối chợ. “ Phòng” hắn là cái thớt thịt của bà Ba Quân giữa chợ. Kể ra thì cũng gần gũi, ấy thế mà hắn và ả giáp mặt chớ có hề gật đầu chào nhau một tiếng mà chỉ đưa mắt dòm qua rồi thôi. Nhưng lòng hắn chộn rộn mỗi khi gặp ả. Hắn thương đôi mắt ngơ ngác dưới hàng mi cong, hắn ngẩn ngơ mỗi khi Phấn cười, hắn yêu cái tướng đi khó nhọc của Phấn. Với hắn, dáng ấy chẳng phải của một người tàn tật mà trở nên uyển chuyển, dịu dàng. Mỗi khi ả bật cong người để di chuyển khuôn ngực thách thức nhô ra phía trước, cặp mông tròn lẳn trồi lên trụt xuống sau mỗi bước chân, cánh tay trần no nưỡng, trắng trẻo phất đều. Phấn đẹp lõa lồ như một con cá Hô cái quậy ổ, tìm cách phới cái bụng trứng, giữa những đường lượn của những con cá Hô đực vào một ngày mưa đầu nguồn sông Bảy Háp mà Câm đã từng thấy. Với hắn  đó là chuyển động quyến rũ, gợi tình. Hắn cười thầm mãn nguyện, xem đó là hạnh phúc riêng gã cho cái phát hiện quan trọng đó. Dân xóm chợ bắt đầu xì xào, chọc ghẹo khi bắt gặp hắn lén lợp lại mái nhà cho Phấn, đổ cho đầy cái kiệu nước, gom củi vụn cho ả chụm bếp. Mà hắn làm việc ấy thầm lặng lắm, khi ả vắng nhà. Ả đi bán bánh cam, hắn mới len lén đỡ đần, hắn lo lo, thương thương… Đích thị là hắn tương tư.
Hắn nghiện cái món bánh cam của Phấn làm. Có lẽ, Câm nghĩ, cô Phấn đã vô tình nêm bột bằng một thứ gia vị đặc biệt: mồ hôi trinh nguyên ở khe ngực cô rớt xuống nên không bánh cam phương nào hấp dẫn hơn bánh cam cô Phấn. Cả đời hắn chưa thấy ai làm bánh cam khéo như Phấn. Phấn trộn bột nếp và bột gạo mỗi thứ một lượng bằng nhau cộng với một ít đường, muối đem nhào đều, sau đó đem ủ. Đậu xanh cho vào nồi rồi đổ ít nước vào, nấu cho sôi vào khuấy đều đến khi nào nhừ thì cho đường và chút muối. Sau đó lấy bột bánh nắn mỏng cho nhân đậu xanh vào rồi nắn dẹt dẹt cho vào chảo dầu sôi. Bánh chín nhanh tay cho nước mè đường  tráng lên mặt bánh. Hắn say mê dòm ả làm bánh quên cả công việc chính của mình là bửa cho chú Hai Sếch 2 thước củi, đặng mai nhà chú có đám cưới.
 Hắn suy nghĩ lung lắm. Hắn trở mình liên hồi khiến cái thớt thịt cũng rên lên theo nhịp trở mình. Mấy hôm nay nhà bà Lành không gánh bánh canh bán đầu chợ nữa, nghe đâu thiếu đói, mấy đứa con ăn đến cụt vốn, dù gánh bánh canh mặn của bả chưa đến một trăm ngàn. Cái xe hũ tiếu gõ của ông Tư thời sự cũng không còn đẩy qua đây mỗi đêm. Tiếng thanh tre gõ vào nhau của thằng Cu Lì con ông Tư sinh động như một bản nhạc đường phố giờ tắt ngúm. Nghe nói thằng lớn nhà ổng đánh bạc thua, đến cái xe hũ tiếu chủ nợ cũng đến xiết. Mà nói cũng tội, thằng con làm thợ hồ nghe người ta rủ rê đánh bạc mau giàu, gã nghe bùi tai nhào vô...Giá mà hắn trúng số, trước nhứt hắn sẽ mua thêm mấy cái xoong, chảo, lò thiệt lớn đặng “người tình trong mộng” của hắn chiên bánh cam cho thoải mái; thứ nữa hắn cho người vài trăm, ai hắn cũng cho đều trân. Hắn lại nghĩ có khi vài trăm ít quá hay là người vài triệu để xoay sở mần ăn. Nhất định chuộc cái xe hủ tiếu cho ông Tư. Còn một việc trọng đại nữa là hắn sẽ mua đất, cất nhà, hỏi cưới Phấn, đám cưới hai người sẽ đường hoàng, rỡ ràng. Hắn hết nằm nghiêng, lại nằm ngửa, ngó mặt lên trời cười mình ênh. Nhưng mà “của thiên trả địa”, trúng vé số lớn có khi lại mất đi cái gì đó lớn hơn. Mà biết đâu chừng lúc có tiền hắn lại trở thành con người khác, lúc ấy (lại) biết đâu chừng người trong mộng của hắn không phải là ả? Nghĩ  thế hắn lại đâm ra sợ. Hắn quyết rồi, cả đời hắn chỉ sẽ yêu Phấn… hay là thôi, cứ nghèo như vầy cũng được, để hàng ngày hắn được dòm Phấn, canh me ả sắp đi bán bánh cam để mua mở hàng và chiều tối về nếu bánh cam ế hắn sẽ mua hết cho ả. Để mỗi ngày hắn được nhìn thấy ả cười ỏn ẻn, ngắm cái tướng con cá Hô quậy ổ của ả là hắn cảm thấy vui không kể xiết. Hắn thôi không nghĩ nữa quấn tấm mền cũ từ hồi năm nẳm gáy đều. Trong mơ, hắn thấy ả mặc áo cô dâu trắng tinh đi bên hắn.
- Dậy đi, mưa lớn không biết lạnh sao?
Hắn ú ớ tỉnh giấc, giật thót  nhận ra người con gái hắn mới thì chiêm bao trước khi nhận ra mưa hắt ướt một nửa cái thớt thịt.
- Thôi, vô chỗ tui đục mưa. Tui ngó tội, tui kêu anh vô đó.
Hắn gãi gãi đầu, áng chừng hắn thấy kì, cảnh nam, nữ đơn chiếc trong đêm cô quạnh ở chung cái chòi, chòm xóm người ta dị nghị. Phấn  nói một lèo:
- Anh mắc cỡ heng? Tui để anh ướt luôn. Tui nhớ cái ơn anh lợp cái chòi, kê cao tấm ván ngựa, nên tui thấy trời mưa gió kêu anh vô chòi chớ có ham hố chi. Cao su nè quàng vô hay không tùy anh á. Tui vô, đặng ướt bệnh ai mà lo.
Nói rồi ả ngoăn ngoắt dáng con tôm bật đi về phía cuối chợ. Hắn cảm động quàng nhanh tấm cao su tẻn tò theo sau.
- Anh lên bộ ván nằm ngủ tự nhiên nghen. Tui mắc làm, mơi tui bán khoai môn luộc.
Hắn hươ tay có ý gấp gáp hỏi sao ả không bán bánh cam. Ả nín thinh không nói gì, lát sau nói trỏng:
- Nếp, đậu, đường…thứ gì cũng tăng giá. Làm bánh nhỏ đi thì kì mà thêm giá thì coi cũng hổng được. Làm y rang cũ thì không có lời. Sống sao nổi.
Hắn chưng hửng, mai mốt hắn biết ăn bánh cam ở đâu? Hắn dòm ả rửa khoai rồi dòm cái xịa hàng ngày ả vẫn xếp bánh cam lên đó tự nhiên lòng thấy sao sao. Phấn chụm cái bếp củi bắc nồi khoai lên rồi nói:
- Anh có ăn bánh cam của tui cả đời được đâu mà tiếc chi? Anh ngủ tiếp đi, mưa lớn lắm. Sắp tới mùa mưa rồi, anh tính sao chớ ngủ thớt thịt hoài đâu có được.
Hắn ra hiệu liên hồi, biểu ả cứ làm bánh cam đi, mắc bao nhiêu hắn cũng ăn, hắn ăn cả đời được. Hắn không quan tâm cái thớt thịt, mưa kệ nó. Hắn chỉ quan tâm đến ả. Hắn bước xuống, lấy tấm bạt kéo ngang chòi, che mấy lỗ dột. Phấn nói bâng quơ:
- Mưa hoài…
Hắn nhìn ả, dưới ánh lửa bập bùng, ả đẹp lạ. Phấn đưa củi vào bếp, ngồi buồn so. Sao mà lúc nào hắn cũng thấy ả buồn, kể cả những lúc ả cười. Cái chòi của ả rung lật bật lên trong gió, mấy miếng tol va nghiến vào nhau. Cái nền thấp trũng mưa lớn chút là nước tràn vô nhớm nhúa. Mấy cái cột gầy đét giỏi lắm chỉ trụ được đến giữa mùa mưa. Nhìn vô đâu hắn cũng thấy chỗ này cần sửa, chỗ kia cần sửa. Phấn dòm hắn, ý chừng đọc được điều lo lắng của hắn, nói:
- Anh lo cho tui chi. Cũng khỏi sửa, mơi mốt chính quyền người ta hốt cái chòi của tui  rồi.
Hắn ngồi xuống gần ả. Tự nhiên run bắn, lần đầu tiên hắn được gần ả như thế. Khoảng cách chừng nửa sải tay. Phấn cũng tự nhiên run bắn, lần đầu tiên có người đàn ông dòm ả âu yếm đến thế. Lâu nay người ta chỉ dòm ả theo cái kiểu của lòng thương hại hoặc khinh sợ. Có lần khi đi bán bánh cam về muộn, ả ngồi trên bờ ruộng nghỉ mệt có thằng khốn nạn dâm đãng miệng nồng nặc mùi rượu lẫn lộn mùi tanh tưởi của cá, các loại cua còng toát ra từ mồ hôi xấn tới, tóc bù xù bết lại che nửa khuôn mặt cháy đỏ nắng gió biển khơi, ngự trên khuôn mặt đó là đôi mắt hoang dại, cái mũi sần sùi, cặp môi màu thịt trâu thiu, hắn dùng đôi tay cuộn bắp thịt lực lưỡng  kéo ả đến gốc dừa mặc ả van xin, kêu khóc đến khi hắn lột quần ả, hắn khựng lại nhìn đôi chân teo tóp, những mảng da dúm dó kì dị hắn giơ tay tát ả, nhổ nước bọt gằn lên:
- Đ… mẹ. Dòm cái mặt đẹp mà dòm chân mắc ói. Hết ham.
Thằng say tỏ vẻ ghê tởm, phát cười hô hố ngật ngưỡng bỏ đi để lại phía sau lưng một người đàn bà tật nguyền trần trụi. Khuôn mặt thằng say, cái mùi tanh tưởi lợm giọng đó ám ảnh ả, xoáy vào suy nghĩ của ả rằng: thân thể ả không phải là thân thể của một con người.
Không nhìn hắn, Phấn đưa củ khoai vừa chín tới cho gã:
- Ăn đi cho nóng. Còn mưa tới sáng.
Hắn nhận lấy củ khoai rồi chụp luôn bàn tay của Phấn. Phấn giựt mình theo phản xạ kéo tay lại nhưng hắn đã nắm chặt.
Mưa vẫn rơi trên mấy tàu lá dừa lộp độp. Rơi xuống cả mặt đất cằn đanh lại. Tiếng sóng  vỗ oàm oạp bờ kè từ ngoài sông vọng vào. Lửa vẫn cháy bập bùng trong cái chòi tạm bợ như chẳng thể tạm bợ hơn. Có hai bóng người cứ nhích lại, nhích lại...
Xó biển bỗng nhiên có những cơn chấn động nho nhỏ. Từ xóm trên xóm dưới ai cũng bàn tán không dứt. Vài tháng trước, người ta xôn xao kể nhau nghe chuyện ông Trưởng ấp trong lúc rượt mấy thằng ăn cắp bị chúng đập cho vài gậy bể đầu chảy máu phải nhập viện. Ai cũng khen ông Trưởng ấp gan dạ, dám nhận lãnh nguy hiểm để bảo vệ trật tự an ninh xóm làng. Mấy tháng sau, người ta xôn xao cái tin giật gân chuyện cô Phấn có bầu. Ai cũng cố tìm hiểu, phân tích xem Phấn chửa với ai. Chị Hồng bán thịt heo quả quyết:
- Tui chắc con Phấn nó có bầu với thằng câm!
- Thiệt hôn? - Bà Lành bánh canh xáp vô hỏi.
- Chắc mà. Dòm mặt tưởng hiền, dè đâu cũng thứ dữ.
Bà Ba Quân vừa vung dao chặt cái sọ heo vừa bô bô:
- Có ai hiền cái vụ đó đâu mấy bà ơi. Ờ héng, mà thằng chả đi đâu biệt? Hay bỏ của chạy lấy người.
Mấy người đàn bà phá lên cười.
Mấy bà này lạ, biết có phải của thằng câm không mà nói nó chi cho tội? – Ông Tư hũ tiếu ngừng tay dọn dẹp mấy cái tô lên tiếng.
- Còn ai vô đây nữa mà hỏi. Hổng nó thì ai? Hổng lẽ ông? - Đám đàn bà  phá lên cười. Ông Tư lắc đầu đẩy tiếp cái xe hũ tiếu đi về.
Bước vào nhà, ông Tư ngồi nghỉ chút rồi cuốn điếu thuốc băn khoăn nghĩ. Thằng Câm bỏ cái xóm này đi mấy tháng ngay cái lúc con Phấn có bầu thì bà con tránh sao nghi ngờ. Cái thằng tệ, để lại cái bụng bầu cho con nhỏ… mà thân nó vậy xoay xở sao. Cô Phấn áng chừng cũng bằng tuổi thằng con lớn của ông. Phải chi cái chân cô Phấn không có tật thì cũng nhiều đám dòm ngó, hỏi cưới chớ đâu…
Ông Tư réo:
- Cu Lì, theo ba đến chợ thăm cô Phấn con.
- Dạ - Cu Lì nhảy phóc từ đống cát xuống theo ông Tư
Ông Tư ghé tạp hóa mua lon sữa, kí đường. Nghĩ tới nghĩ lui thấy tội, ngày trước thằng Câm tốt bụng, gặp ai cũng tiếp giúp, cả xóm này thích nó. Nó hay tới lui nhà ông Tư nhất là kể từ sau ngày ông Tư bị xiết cái xe hủ tiếu. Có nó ông cũng đỡ buồn. Bà Tư mất sớm, mình ông Tư gà trống nuôi con  cực nhọc. Thằng Câm thấy vậy mà thứ gì cũng biết. Nó đóng cho ông cái chuồng nuôi trăn lại cho ông mượn số tiền dành dụm đặng ông chuộc cái xe hủ tiếu đẩy đi bán cho đỡ cực. Tới cái chòi của Phấn, cu Lì gọi:
- Cô Phấn ơi, có nhà hôn? – Miệng nói tay tới, cu Lì đẩy miếng liếp ngó vô. Phấn đang ngồi dựa lưng vào tấm phản, da nhợt nhạt, cái bụng tròn nhô lên. Thấy ông Tư vô, Phấn đứng lên mời ông với thằng cu Lì ngồi lên phản. Ông Tư ngó quanh cái chòi, xem chừng nó cũng rệu rã. Ông thấy lo, dòm cái bụng này chắc gần tháng sanh.
-  Sắp sanh mà ở trong cái chòi này tao thấy không ổn nghe bay.
Ả lấy cái bánh cam đưa cho cu Lì, thằng nhỏ toét miệng cười cầm lấy liền miệng nhai rổn rảng.
- Không sao đâu chú Tư. Thấy vậy chớ chòi của con chắc lắm. Hôm bữa anh Câm lấy dây chì cột hết chơn rồi. Ảnh còn thay giúp con mấy cái cột.
Vậy là đích thị cái bụng bầu này của thằng Câm rồi, người ta nói chớ có sai, ông Tư nghĩ. Ông không thể nghĩ thằng Câm nó tệ đến vậy, lỡ gây cho con người ta chuyện động trời đó thì phải có trách nhiệm chớ sao để con nhỏ nó thế này, rồi mai mốt sanh nở…
- Hay bây qua tao ở tạm. Tao coi thằng câm với bây như con tao. Thằng này nó bậy quá, nó để bây như vầy…
Phấn khựng lại, đưa tay bưng mặt, vai run lên, đôi chân tật nguyền khụm xuống, xịa bánh cam mới làm ụp xuống đất. Ả khóc hu hu như đứa con nít:
- Trời ơi, có khổ nào bằng khổ này không con…
Ông già Tư cúi xuống nâng ả dậy, thằng cu Lì nãy giờ nghe thủng câu chuyện mắt nó cũng đỏ hoe. Một đứa con nít như nó chưa hiểu hết thế nào là căm hận, nhục nhã nhưng nó biết thương cái thân thể tật nguyền của cô Phấn kia không biết làm thế nào để nuôi con, nó thương mấy cái bánh cam mới làm ngon lành thế mà đổ ập xuống lấm lem đất cát. Cu Lì quyệt nước mắt, đưa tay lượm mấy cái bánh cam… Ngoài trời gió bỗng rít lên, cái chòi xơ xác run lên bần bật. Trong chòi một già một trẻ đang nâng nhau đứng dậy…
Mấy ngày nay, xóm biển lại xôn xao bàn tán. Không ai biết cô Phấn bỏ cái chòi ở xó chợ đi đâu. Người ta chỉ thấy cái chòi trống huơ trống hoác lăn lóc mấy cái xoong méo mó mốc meo. Có người nói cô Phấn sanh thiếu tháng, đứa trẻ chưa biết khóc đã ngừng thở. Có người nói cô Phấn đau khổ quá nhẩy xuống biển tự tử. Cho nên nước biển khi đó nghe mấy người đi câu mực kể có mùi tanh như mùi máu. Có người lại nói có khi cô Phấn bê bụng đi tìm ba đứa bé - thằng Câm. Bà bán bún mắm còn đồn thổi cái chuyện khó tin là vào một buổi chiều, nắng đỏ rực một cách quái gở bà nhìn thấy một con cá lạ ưỡn cái bụng chửa trắng tởn quẩy đuôi hụp lặn đầu nguồn sông Bảy Háp thì bà thấy rõ mồn một cái đuôi của nó chẻ ra làm hai, một bên quặt lại dúm dó y chang đôi chân cô Phấn… Bà quả quyết cô Phấn hóa thành con cá lạ đó.
Chẳng ai bén mảng đến cái chòi của cô Phấn, dù nó rệu rã như răng bà già. Chính quyền địa phương cũng không dẹp nó đi cho đẹp vẻ mỹ quan. Chỉ có tay trưởng ấp, trên trán có vết thẹo dài đỏ ửng hay giật giật lên, thỉnh thoảng từ cái nhà văn hóa mắt láo liên ngó sang dòm chừng - ấy là thằng Cu Lì hay chơi chọi lon gần đó phát hiện ra.
Duy chỉ có ông già Tư là biết rõ sự thực. Cái ngày cô Phấn sắp chuyển dạ thằng Câm bất thình lình xuất hiện. Nó về mang cô Phấn đi. Cô Phấn mắt ầng ậc nước, quỳ xuống lậy tạ ông già Tư đã cưu mang cô những ngày tháng nghiệt ngã và cho ông biết cái sự thật đắng nghét, sững sờ. Vào cái đêm mưa gió, khi thằng Câm quyết đi thành phố mần ăn đặng kiếm tiền về cưới cô Phấn sau khi nắm được tay cổ. Thì một đêm mưa gió khác, khi hắn không còn ở xóm biển, nước tràn vô cái chòi cô Phấn phải di cư lên cái nhà văn hóa trú tạm. Cái đêm mưa gió bão bùng ấy tay trưởng ấp mò đến nhà văn hóa, gã choáng khi nhìn thấy da thịt cô Phấn in rõ mồn một trên nền áo ướt. Máu nóng dồn lên mặt, gã chăm chăm nhìn vào khuôn ngực phập phồng, cái mông hẩy lên, nhấp nhô sau những bước di chuyển… Như một con thú đang cơn động đực, gã vồ lấy Phấn, đè nghiến lấy...  Gã đã làm cái chuyện đồi bại trước khi cô Phấn dùng hết sức căm phẫn đạp y bật ngửa đầu va vào cái ghế dài dùng để bà con ngồi sinh hoạt… Gã đàn ông nồng nỗng rú lên ôm lấy trán…
Ông già Tư mỗi ngày đều bán hũ tiếu gõ. Cứ chiều xuống, ông già Tư nổi lửa nấu nồi nước súp, còn cu Lì lóc cóc thanh tre gỗ khắp các hẻm nhỏ. Lâu dần cái xóm ở xó biển không ai còn nhắc đến chuyện mất tích cô Phấn với thằng Câm dù cái chòi vẫn còn đó, dù chỉ là một đống vụn vỡ cả tol và mấy cây đước. Chỉ có ông già Tư còn nhớ, chỉ có ông già Tư biết thằng Câm quyết dắt cô Phấn đi vì tình yêu, vì quyết định hoàn toàn bản năng, theo linh tính như những con thú đánh hơi thấy sự nguy hiểm.
Ông Tư cần mẫn đẩy xe hủ tiếu, cái bóng cao gầy của ông xuống đường quê. Dòng sông cạnh con đường nhuộm ráng chiều đỏ rực, nắng xế tạt nắng lên tán cây, nhuộm vàng tóc cu Lì. Xóm xó biển đẹp lạ lùng…
****
Miền Tây, mùa mưa…

Chủ Nhật, 11 tháng 3, 2012

Ở LẠI CÙNG SÔNG

Ở LẠI CÙNG SÔNG
(Tác  phẩmGiải nhì cuộc thi truyện ngắn ĐBSCL lần 4)
“ Trong đời tui hạnh phúc nhứt là khi sanh thằng Phúc, thằng Hậu và cái lúc tui té sông bị chân vịt chém xém đứt mấy ngón tay”. Dì cười héo hắt, nhỏ mấy giọt nước mắt đặc quánh, bên bết như sình non.Tôi bâng quơ nghĩ: nước mắt chi mà lạ…Hay là thứ nước mắt của những khổ đau dồn nén?  Hay là tôi lóa mắt nhìn lầm?. Dưới ánh sáng của cây đèn Hoa Kỳ để góc ghe đủ để tôi nhìn rõ gương mặt dì. Đó là gương mặt cam chịu đến ám ảnh, những nếp nhăn xô lệch rơi vãi khắp nơi,đôi mắt to, sâu hun hút như không có đáy,mớ tóc dày quấn cao càng khiến các góc cạnh của khuôn mặt phô ra hết.
            -  Sao dì lại thấy mình hạnh phúc vào những lúc đó ?
      - Cô là dân bàn giấy đâu có hiểu được dân mạt hạng tụi tui. Tối ngày lo mần không đủ ăn, đâu có ngó nhiều tới nhau. Lúc người đờn bà ở cái miệt này sanh con là lúc được người đờn ông chăm sóc nhiều nhứt. Tui có phước té sông bị chân vịt chém vài đường thịt chớ nhiều người chết luôn. Cữ đó, ổng ở nhà chăm sóc tui y như cái hồi tui sanh tụi nhỏ…
Tôi dựa vào mạn ghe, kế bếp lửa dì đốt hun tay chân cho tôi khi vớt tôi từ dưới  sông lên. Lúc tôi trầm mình xuống dòng này chỉ muốn chết cho nhẹ nợ trần gian không nghĩ mình được vớt lên rồi ngồi đây nghe một người đàn bà sống kiếp thương hồ kể chuyện. Dì nấu cháo hàu biểu tôi ăn cho lại sức. Dì nói không có thứ nào ngon hơn hàu, chỉ đưa thìa cháo vào miệng, răng khẽ chạm vào thân hàu và cảm nhận một tiếng vỡ bục thật khẽ, vị thơm ngậy cứ lẩn quất mãi trong vòm miệng, để rồi khi đã trót ăn một lần thì cứ vấn vương mãi không dứt. Còn tôi trong cơn đê mê hụt chết chỉ thấy miệng đắng ngắt, ứ đầy một cảm giác mệt mỏi, đôi mắt trĩu nặng muốn ngủ như khi tôi gieo mình xuống đáy sông..
          Giọng dì vẫn nhàn nhạt, buồn buồn, trầm trầm lẫn vào tiếng sóng vỗ vào bờ dứt    ra từng tảng đất đổ oàm xuống sông, sóng liếm vào chiếc ghe chùng chình lay lắt…
 “ Hồi đó ổng đem có cặp vịt qua nhà dắt tui về làm vợ chớ có đám đình chi đâu. Ổng nghèo, tui cũng nghèo, phận nghèo với nhau hiểu dạ nhau mà sống chớ tui không đòi hỏi gì nhiều. Tài sản ổng có là chiếc ghe cũ chở khách, bán đồ tươi, đồ khô, vớt phế liệu…Ổng nói ổng rải tro cốt ba má xuống sông Gành Hào này nên mơi mốt dù có đất ở trên bờ ổng cũng không ở trển. Biết hoàn cảnh ổng vậy nên tui thương ổng nhiều hơn. Tình thiệt mỗi ngày lặn lội ở khúc sông dơ dáy tui cũng tủi cái thân tui. Những ngày trời nóng nước sông hôi thúi kinh hoàng. Người ta quăng tất cả những gì rác rưởi xuống dòng sông này. Nhưng cũng có lúc khúc sông này cũng xôm tụ chớ không hiu quạnh như giờ. Dân thương hồ tụi tui hay cạp vách xuồngxin mồi lửa, trao đổi cho nhau nắm gạo lức, tấm vải bố tời, trái bầu, trái bí. Bà con dân tình ghé mua, thấy buôn bán được nên tụi tui neo chỗ này luôn thành cái chợ nổi bán đủ thứ từ bàn ghế, giường tủ… đến mắm muối rau quả. Có bầu thằng Phúc tui nghỉ vớt phế liệu, tui bán đồ tươi, bán café còn ổng đục hàu, sống cũng được. Tui nhớ đất liền, chiều chiều nấu cơm, khói bay lên mui, tui muốn về thăm má hết sức. Ổng biết dạ tui, nói trỏng:
         -  Để đục hết hàu ở bờ kè này tui với em về thăm má nghen.
Tui mừng rân, muốn khóc, ngó ổng. Ổng quấn điếu thuốc xếp gối ngồi trên ghe phì phà nhả khói lên trời, tui biết ổng buồn. Ổng buồn vì thương tui lênh đênh theo ổng hết khúc sông này tới khúc sông khác”.
Dì dừng kể lom khom khêu ngọn đèn dầu, dáng dì nhỏ thó, héo quắt như nhánh lục bình quẳng lên bờ phơi nắng. Trên trang thờ di ảnh một người đàn ông rất trẻ, đôi mắt to lanh lợi, thông minh như đang nhìn thẳng vào tôi. Thoáng giật mình, luống cuống tôi hỏi:
          -  Bức ảnh trên bàn thờ là… là….
          -   Thằng con lớn của tui đó cô. Thằng Phúc anh thằng Hậu .
    -  Sao…lại….?
          -  Ờ, nó đục hàu  bị vọp bẻ chết đuối. Tội lắm, chết hơn ngày tui mới biết. Cũng hên chưa trôi mất xác. Khi vớt nó lên bụng nó còn cột cọng dây nối với cái thau đục hàu cho khỏi trôi. Nó chết mấy năm rồi, mới  24  tuổi, chưa có người yêu…
Tôi giật mình, khi Phúc mất  năm 24 tuổi nghĩa là bằng tuổi tôi hiện giờ… Dì quệt nước mắt, thứ nước mắt sình non dưới ngọn đèn Hoa Kỳ lại lóe lên. Dì đốt cây nhang thắp cho con, lẩm bẩm:
     -  “ Họ đường 3 tháng, láng giềng 3 ngày”, tui thờ con tui cho nó đỡ tủi, đỡ lạnh chớ không như người ta nói con chết trước cha mẹ là nghịch cảnh, bất hiếu. Trời bắt nó đi thay tui thì nó phải đi. Tui biết nó thương ba má nó lắm…
Đôi mắt trên di ảnh nhìn tôi như soi thấu. Một cơn lạnh chạy dọc sống lưng…
           -  Tui hỏi thiệt, sao cô ngán sống nhẩy sông tự tử?
           -  Sắp đến ngày cưới, người yêu con lại đi ngủ với bạn thân của con….Con khổ quá dì ơi….Con muốn chết cho xong…
 Nói được đến đó tôi bật khóc nức nở. Dì lấy cái mềm cũ phủ lên người tôi:
           -  Coi vậy chớ trước sau gì cũng xẩy ra cái chuyện đó thà biết trước còn hơn, đờn ông mà. Đó là cô chưa có chứng kiến  những chuyện đời sông nước tụi tui còn khổ hơn nhiều. Như tui còn có chồng, có con để chia sẻ. Chớ có người cả đời không biết mùi đờn ông là gì, quanh năm chỉ vò võ một mình, một mái chèo với sông nước.
Dì lui cui dọn dẹp tới lui trong ghe. Tôi vẫn không hiểu nổi bao năm qua bằng cách nào gia đình dì có thể xoay xở trên chiếc ghe xác xơ, chắp vá ấy. Tôi tỉnh hẳn, đôi mắt người con trai lớn của dì trong di ảnh vẫn bám riết lấy tôi, dù ngọn đèn dầu dì đã dịch chuyển ra giữa ghe ánh sáng không đủ để nhìn rõ bức ảnh. Không hiểu sao tôi luôn ám ảnh những bến sông.Có bến sông gần, có bến sông  xa, có bến sông buồn, có bến sông vui. Cuộc đời mỗi người đàn bà cũng vậy, như cái bến sông Gành Hào này có lẽ dành cho những người bị phụ bạc như mẹ, như tôi. Mùa thu, miền Tây không dấu chân người. Những đồng nước cứ riên riết chảy mênh mang khắp sông rạch, ruộng đồng. Đâu đâu cũng một màu phù sa ngầu đục. Năm nào, nhìn dòng nước đổ về, tôi cũng khóc. Năm xưa khi bước xuống  tàu, nhìn lên bờ thấy cha đi với một người đàn bà trẻ đẹp, mẹ tôi không khóc chỉ có  tôi oà khóc nức nở. Mẹ ôm lấy tôi, gương mặt đầy vẻ xót thương, chịu đựng. Khi ấy trời mưa, tôi không phân biệt được đâu là nước mắt của mẹ đâu là nước mắt của trời. Để từ khi đó với tôi, mỗi bến sông đều mang bóng dáng gương mặt mẹ tôi.
  - Sao cô hổng ăn?  Trời đất, nguội hết rồi nè !
  - Con  ăn đủ rồi. Cháo hàu ngon nhưng chắc lúc nãy húp mấy ngụm nước sông nên giờ ngang dạ.
  - Ờ, chén nước gừng hồi nãy cô chưa uống hết đâu nghen.
  - Dạ, con uống nè dì. Con chưa biết tên dì?
           -  Tư Rum, cô gọi tui là dì Tư hay Tư Rum đều được. Cô ngủ đi cho khỏe, sớm mai tìm đường về nhà cho mọi người đỡ lo. Coi như cô với tui có duyên.
       -  Con không biết lấy cái chi trả ơn dì…
          - Cô này ngộ héng? Cứu mạng người hơn xây bảy tòa tháp. Với lại tui làm phước cho thằng Phúc sớm đầu thai.
Giọng dì Tư chùng lại, ngân ngấn.Trong đôi mắt của người đàn bà, tôi cảm thấy những đớn đau òa vỡ, cuồn cuộn.
-         Cô nghe chuyện tui đi, rồi cô thấy chuyện của cô có thấm thía gì đâu?
-         Dạ, con cũng đang muốn nghe mà dì…
-   Cô chắc mệt dữ lắm, may phước lúc cô nhẩy sông cũng là lúc tui đứng ngoài mũi ghe vái trời cho cha con thằng Hậu lên Sài Gòn đặng công chuyện nên mới vớt được cô liền. Chớ không giờ này cô làm bạn với hà bá rồi.
-         Dạ, số con chưa tận. Có phước gặp dì cứu.
-   Sống khó chớ chết dễ lắm. Có phước có phần mới được sống lâu can chi đi chết…
-         Chú với Hậu lên Sài Gòn chi vậy dì?
-    Nó đậu nhứt cái trường chi mà về làm thầy cãi cho tòa án trên Sài Gòn đó cô. Cả xóm ghe này mình ên thằng Hậu nhà tui lên bờ đi học thành danh. Mấy bữa nay ai cũng mừng cho vợ chồng tui. Tui hứa với bà con sông nước rồi, ai có oan ức gì đem đây để cho thằng Hậu cãi dùm…
-         À, Hậu làm luật sư…
-         Ờ, đúng rồi, luật sư, tui quên hoài…
Dì Tư Rum cười, khuôn mặt héo hắt của chị bừng lên niềm vui khó tả. Khuôn mặt phản bội méo mó của người chồng sắp cưới khiến tôi phải gieo mình chợt nhòe đi như có vết tẩy mạnh đẩy ngang vết chì trong bức kí họa anh trong tôi. Cả khuôn mặt rất xinh đẹp của cô bạn thân quằn quại trên chiếc giường cưới cùng với người yêu tôi như bị phù sa châu thổ tràn lấp…Trước mắt tôi chỉ có Dì Tư Rum, cánh tay gầy nhưng rắn rỏi có vài vết sẹo do chân vịt chém phải, đôi tay ấy khỏe khoắn bơi ngược dòng Gành Hào kéo tôi lên ghe của dì. Giọng dì đều đều, rỉ rả như giọt mưa rơi trên đám lục bình:
“Tôi không biết mình đã đi bao nhiêu dòng nước sông, con rạch, ghé buôn bán ở những chợ nào, nhưng chắc ăn sông nước ĐBSCL này tôi rành rọt từng ngõ ngách, thuộc từng tên chợ như nằm trong lòng bàn tay. Đời thương hồ tụi tui họp tan theo con nước vơi đầy, theo từng buổi chợ đông, chiều muộn. Sống trên sông riết rồi quen, tui không còn muốn lên bờ nữa. Cực lắm cô. Nồi cơm, nồi canh nhiều khi nấu chín, chưa kịp ăn đã bị đổ sạch do bị sóng đánh mạnh làm chiếc ghe lắc lư. Đêm đến, ngủ không trọn giấc, gặp khi mưa to, giông, gió lớn thì không sao nhắm mắt được, lòng phập phồng lo sợ, mong gió, mưa sớm tạnh, mong trời mau sáng. Dân thương hồ mỗi người một hoàn cảnh, một xứ sở, một quê hương nhưng khi gặp nhau ở một chợ, neo đậu ghe cùng khúc sông thì  kết nghĩa anh em bầu bạn giúp đỡ nhau lúc hoạn nạn, khó khăn. Cô có nghe câu "Bớ chiếc ghe sau chèo mau tôi đợi. Khúc sông này bờ bụi khó qua" thì tụi tui y rang vậy đó. Tui sống với ổng chừng này tuổi đầu mà hồi giờ chưa có cự lộn. Nếu có thì “ Bướm vàng đậu trái mù u/ Vợ chồng lục đục, con c… làm lành”. Mấy đứa con tui sanh ổng đỡ đẻ hết chớ không mượn bà mụ vườn nào đâu. Thằng Phúc lớn lên chỉ biết trên đò là trời, dưới là mặt nước sông. Nó lăn lóc trên sàn, đeo bám trên thành ghe mà lớn.May thời con tui dễ sanh, dễ nuôi không bệnh tật chi. Chớ có nhiều cảnh thương tâm lắm, cha mẹ mắc bán hàng, con nhỏ bị rớt xuống sông, thậm chí bệnh tật cũng không kịp đưa lên bờ để cứu chữa. Thằng Phúc không được đi học, nó biết bập bõm có mấy chữ tui dạy nó. Nó nhanh như con rái cá, bắt cua, bắt cá không ai nhanh bằng nó. Lớn tí đỉnh nó theo cha đi đục hàu. Thằng Phúc 10 tuổi tui mới sanh thằng Hậu. Mần ăn buôn bán lời lãi phập phùng như con nước lớn ròng, tụi tui cho ghe xuôi dưới miệt sông Cái Đôi bán đồ khô. Cha sắp nhỏ theo ghe bạn đốn củi hầm than dưới Gò Công, Ông Trang lận. Thằng Hậu sáng dạ, 2 tuổi mà thứ chi cũng biết ráo. Thằng Phúc với tui có nhiêu chữ nó lấy hết. Nó thèm đi học đến nỗi nhìn thấy bóng mấy đứa nhỏ đi trên bờ là níu áo tui la lên: “ Má, má… Cho con lên bờ đi học nghen”. Thằng Phúc thấy em nó vậy không nói năng chi, cái thằng lầm lì không ai hiểu hết tánh ý nó. Nó đục hàu siêng hơn, quên ăn cơm trưa. Hỏi nó mới nói nó đục nhiều nhiều đặng có tiền cho thằng Hậu lên bờ đi học. Hồi đó muỗi xứ này nhiều như trấu phủ, ổng quấn tấm đệm che thân, tui đan bằng một thứ cỏ lác mọc bạt ngàn trên những cánh đồng hoang đất phèn. Tui nhắn lời cho bạn đường rừng nói ổng chuyện thằng Hậu. Ổng về liền, nhót lòng, hình như ổng khóc, tui với thằng Phúc cũng khóc, có ên thằng Hậu cười. Sớm, ổng nói với tui là ổng đi xin học cho thằng Hậu. Ổng lội bộ chừng 20 cây số. Ổng mang theo một cây gậy tre  để chống đường gập ghềnh mà đi, để đuổi đàn chó dữ ở xóm ổng qua, để tự vệ rắn độc nấp trong lùm. Mấy thằng con tui sanh ra trọi trơ không có đứa nào có giấy khai sanh. Ổng xin tới xin lui thằng Hậu mới được đi học…”
Dì Tư Rum ngừng kể, ngó mông lung ra ngoài, thỉnh thoảng có con cá, con tôm giật mình búng lên mặt nước sáng loáng như rắc lân tinh, văng vẳng trên sông có tiếng ai ru con não nuột: "....Ầu...ơ...Chớ anh đi xa anh trả áo lại đây, để khuya em đắp gió Tây lạnh lùng. Lạnh lùng thì lấy mùng mà đắp, trả áo đây anh đi học đường xa, chớ đường xa… xa lắm em ơi, gởi thư thư lạc chớ gửi lời á....Ầu ...ơ....chớ gửi lời lời quên...". Tiếng ru trong đêm thanh vắng nghe nỉ non tha thiết. Tôi hình dung người đàn bà cô đơn ru con mà nhớ chồng...
-         Cô có nghe thấy tiếng ru con không?
-         Dạ có …
-         Con Lan nó ru con nó đó. Con nó lọt sông chết hồi năm ngoái mà nó ru hoài… Chồng nó đi hầm than còn nó bán đồ tươi. Từ ngày con nó chết đêm nào nó cũng ru, hồi mới ghe rợn sống lưng sau rồi riết quen. Khuya mà không nghe tiếng nó ru con xóm thương hồ tụi tui lại lo. Hổm rày nó như con chuột sống trong cái ổ chuột. Chồng nó mới thì  bỏ ghe, bỏ nó lên bờ theo con Hiền bán café đầu sông đó. Đờn bà mình khổ thiệt heng cô?
-         Trời ơi…Sao bạc bẽo vậy trời…
Gương mặt người đàn ông đầy trí tuệ của tôi, người bạn gái thân thiết của tôi xẹt ngang qua mặt. Tôi giật mình. Bọn họ như đang nhìn chòng chọc vào tôi cười ngả nghiêng, họ quấn vào nhau lăn lộn lên đầu sóng bật ánh lân tinh. Tôi chạy theo họ  như lướt trên mặt sóng chập chùng, chới với..
-         Nè cô, có sao không? Trúng gió hả ?
Dì Tư Rum lắc lắc vai tôi. Tôi choàng tỉnh. Khuôn mặt của những kẻ phản bội đã ám ảnh tôi, kéo tôi đi…
-         Con không sao. Con hơi lạnh thôi.
-         Để tui thêm than vô lò cho cô ấm nghen. Còn yếu trong mình đó mà…
-         Con đỡ rồi. Dì kể tiếp con nghe nghen.
-         Chèng ơi, gấp gì cô, đêm còn dài mà, thủng thẳng tui kể… Để tui xức dầu nước xanh cho cô nghen. Chén nước gừng uống hết rồi hả. Ừa…
Dì Tư lấy mấy cục than đước bỏ vô lò rồi lục túi áo lấy chai dầu gió xức trên hai thái dương, sau ót cho tôi. Mùi bùn đất, mùi nắng, mùi gió đồng, mùi lục bình xanh nhớt lẫn khuất trong hơi thở của dì phả ra. Tôi thấy ấm áp lạ… Hơi thở ấy giống hơi thở của mẹ tôi khi còn sống, chỉ có khác mẹ tôi còn mang mùi của bờ cỏ xanh non trên cánh đồng ngày gieo hạt. Dì biểu tôi gối đầu lên đùi dì nằm cho đỡ mỏi, có hơi người cho ấm. Tôi nhỏ bé trong bộ bà ba rộng thùng thình của dì chắc đã may từ lâu lắm vì tôi thấy vải đã giãn ra hết cỡ, mỏng lét. Dì tiếp tục câu chuyện của mình:
“ Lay lắt, vợ chồng tui cũng cho thằng Hậu lên bờ đi học như người ta. May mắn nó gặp được ông thầy nhơn hậu cho ở đậu. Nghe ông thầy khen nó học giỏi, có tương lai,  vợ chồng tui mừng rơn. Mừng nhứt là thằng Phúc, nó biểu tui: “ Rồi má coi, mơi mốt thằng Hậu thành tài mần có tiền cất nhà lầu trên bờ cho ba má, khỏi cực.”. Vài tháng tụi tui xuôi về sông Cái Đôi một lần thăm nó, đời thương hồ mà cô. Tụi tui sống theo con nước, tới đâu là cắm sào tới đó rồi buôn gánh bán bưng, bán xong lại xuôi theo con nước tìm chỗ khác cắm sào nên người đời mới gọi tụi tui là "dân thương hồ". Hết nhổ sào lại cắm sào, cứ thế dân thương hồ tụi tui lang bạt khắp miền. Hết sông Gành Hào, theo con nước mà đến sông Ông Đốc, có khi tới Bến Tre, Tiền Giang…Mấy năm nay tụi tui mới cố định ở khúc sông Gành Hào này, cho thằng Phúc đỡ tội… Khúc sông này coi vậy mà luồng lạch dữ lắm, đâu nuốt có mình thằng Phúc nhà tui đâu mà kéo theo chú thợ lặn chính quyền mướn xuống mò vật chứng là cái cây đục hào của con tui chi đó…Nghèo khổ thì vậy đó cô, người ta mướn gì làm nấy lấy tiền lo cho vợ con… Chú đó nghe nói cũng có vợ hai con rồi…”
Dì Tư Rum chợt nín thinh,  thở dài thắc thỏm:
-         Cha con thằng Hậu không biết xong công chuyện chưa?
-         Mai mốt Hậu xây được nhà lầu, dì với chú có lên bờ sống không?
Dì tư trầm ngâm hồi lâu mới nói:
      -    Tui với ổng dứt dạt ở lại với sông rồi. Thằng Hậu lên bờ nó yên phận nó, nó xây được nhà lầu thì vợ nó cháu tui được sung sướng, vậy là tui an tâm. Tụi tui quen sóng quen gió rồi, lên bờ cái thứ chi cũng lạ nhách. Mà lên bờ tui với ổng bỏ ông bà nội sắp nhỏ, bỏ thằng Phúc sao đành cô ơi…
Tôi như thấy đôi mắt Phúc xuyên qua ánh sáng mờ mờ nhìn tôi với dì Tư Rum. Tự nhiên không còn thấy sợ nữa… Đôi mắt ấy hiền lành, đầy yêu thương….Tôi không thể lý giải vì sao lại có cảm giác Phúc như đang ngồi sát bên tôi. Phúc bỏ thêm vài cục than rồi khom khom thổi cho than bén lửa. Phúc gần lắm, gần đến mức chỉ cần tôi khẽ với là có thể chạm được Phúc…Tôi khẽ mỉm cười quay về phía trangthờ gật đầu chào Phúc. Bức ảnh động đậy, rõ ràng tôi thấy khóe môi Phúc hơi nhếch lên, Phúc cười.  Tiếng dì Tư va với tiếng sóng vỗ oằm oặm vào mạn ghe đều đều: “ Ba thằng Phúc đặt nó lên cái bắp vế, lấy nước sông tắm cho nó lần cuối. Tui không thấy ổng khóc, đôi mắt ông lặng lờ như hai viên đạn keo. Thằng Hậu hồi đó đương thi, ổng dặn đừng có báo tin anh nó chết sông, nó động tâm không làm bài được. Tới khi nó biết anh nó chết, nó khóc ran trời, chạy miết trên bờ sông, nó biểu tro cốt anh nó đâu? Sao không chôn anh nó mà rải xuống sông chi cho tội phận? Đến lúc đó ba thằng Phúc mới khóc, ổng đứng trên mũi ghe chết trân dòm theo chân thằng Hậu chạy dài trên bờ sông, nước mắt ổng chảy nhiểu xuống ướt điếu thuốc rê ổng đang hút.”
Dì Tư ngừng nói, ngó xuống nhìn tôi:
      -     Tui kể tui không khóc sao cô khóc ?
-         Dạ, không có…
-         Có chớ sao không? Nước mắt cô ướt bắp vế tui nè.
-         Chắc mồ hôi đó dì. Người con ấm lại rồi nè. Có dầu gió xanh dì xức, còn có chén nước gừng, có cái mền nữa…
-         Ừa, vậy là cô khỏe trong mình rồi đó…
 Tôi khóc lúc nào không hay. Là lúc tôi thấy Phúc nhìn tôi hay lúc ba Phúc tắm nước sông cho Phúc lần cuối… Là lúc nắm tro cốt của Phúc bay trắng như sương mù cả khúc sông hay lúc tôi thấy Phúc men hết bờ kè này đến bờ khác mải miết đục hàu cho Hậu đi học… Trời tạnh mưa từ lâu, ánh trăng lưỡi liềm tỏa ánh sáng xanh xao, mặt sông bớt cô quạnh,. Tiếng ru của chị Lan đã tắt, chắc chị ngủ và đứa con hẳn đã bớt lạnh dưới lòng sông. Vài chiếc tắc ráng chạy vọt xô nước, chiếc ghe chòng chành, Phúc hình như vẫn nhìn tôi và mỉm cười…
Sông lại lặng im. Ngoài tiếng gió lao xao trên tán dừa nước khôngcòn một âm thanh nào khác nữa. Tất cả đều im lặng. Phải chăng là cái im lặng rình rập, cái im lặng hồi hộp, cái im lặng rợn người như một đoạn phim căng thẳng quá độ, đạo diễn không cho nhạc đệm?… Hình như tất cả điều đó đều không phải. Đó là cái im lặng êm đềm đang dành cho dì Tư, tôi và Phúc trong một cõi nửa thực, nửa mơ…
Sóng vỗ mạn ghe đều đều, hơi ấm dì Tư tỏa sang tôi, bếp lửa vẫn còn ấm nóng… Tôi nằm trên đùi dì Tư thiêm thiếp ngủ…Loáng thoáng tôi lại thấy Phúc cười….


--
Miền tây, đêm tháng 9 mưa rả rích tàn canh.
Nguyễn Thị Việt Hà