Ảnh Việt Hà

Ảnh Việt Hà
Ta về trồng cỏ dại đầy sân...

Thứ Ba, 31 tháng 1, 2012

CÂU CHUYỆN VỀ MỘT NGỌN ROI

31/01/2012 18:31  |  10 lượt xem
Trong suốt khoảng thời gian dài, thầy yêu cầu thực hiện rất nhiều nội dung của bài làm văn. Học trò ngoan, thực hiện hết nhưng thường thì rất ít được thầy khen, hầu hết thầy yêu cầu chỉnh sửa hoặc tiết chế những cơn ngẫu hứng cải lương. Thầy không phê bỏ lửng, phê tới nơi tới chốn và sửa bằng nhiều hướng như một cách gợi ý. Thầy gọi đó là " Đạo muối". Thầy rất công bằng và để học trò có cơ hội thể hiện suy nghĩ, năng lực bản thân. Thầy im lặng lắng nghe hoặc tìm thêm tài liệu gởi đến!
Mỗi tháng một lần thầy gởi đủ 8 tờ báo có tính chuyên môn cao nhất... Đều đặn, không sót tháng nào... Mình vẫn nhận, miệt mài đọc hết, miệt mài tích cóp những điều mình thích, miệt mài học và thú thật luôn đặt mình ở vị trí số 0. Bài viết nào cũng như bài viết đầu tiên...
Mỗi buổi sáng, khi thức dậy, ngồi Thiền và vào máy kiểm tra email, chỉnh lại bài viết và nhấn nút gởi... Thói quen ấy thay cho thói quen chạy bộ. Thầy vẫn thế, ra đề, tìm tài liệu, bảo mình cứ đi đi, đi cho thẳng thướng vào con đường vốn dĩ đã chẳng có lối đi. Mình báo cáo thầy bằng giải thưởng, thầy chúc mừng rồi bảo lập tức quên nó đi và hãy viết như lần đầu học viết. Thuỵ gọi thầy là sư phụ và hỏi mình học thầy khi nào? Mình bảo mình học thầy khi bản thân đã đủ tư cách làm giáo viên, đứng trên bục giảng dạy tụi nhỏ. Mình học thầy khi bước vào cõi văn chương hoang mang. Rụt rè, kín tiếng, không xây dựng mối quan hệ với " tên tuổi cây đa, cây đề". Mình vốn thế, luôn tự mình đứng ngoài và chỉ viết khi cảm thấy thích. Một cu rơ xe đạp càng cúi về phía trước càng tiến nhanh nhưng người đi bộ bình thường bằng đôi chân trần không thể vừa đi vừa cúi cho dù cách đó đôi khi lại nhanh hơn vì đi tắt. Chậm cũng được, đứng ngoài cũng được nhưng được đi thẳng. Thầy nghiêm khắc nhưng luôn đứng im đó để xem trò mình làm được những gì và tỉ mẩn từng chút, từng chút một như nghệ nhân nắn một cây non. Trong một bài phỏng vấn, Phương Huyền hỏi rất kỹ về ngọn roi mây đặt ngang trang viết mình từng nhắc... Huyền kể trong một dự án văn học thiếu nhi, Huyền có gặp thầy, biết nhiều đến thầy qua nhà văn Nguyễn Đông Thức và kính trọng một nhân cách nhà văn chân chính như thầy. Mình cười rất vui...Tự hào khi sách của thầy tái bản liên tục vài mươi ngàn cuốn...
Mùng 2 tết, mình viết một bài thơ về cánh rừng và dòng sông bốc cháy...Khi dòng sông bên trường mình cá nổi đầu, trắng xoá xót xa, khi cánh rừng phòng hộ sau trường qua vài đêm bỗng nhien lởm chởm như cái đầu đinh cắt hỏng... Đêm trước công ty thuỷ sản xả nước thải... Chắc dòng sông ấy lâu lắm mới có lại cá hoặc có thể chẳng còn có cơ hội cá về; cánh rừng ấy bao giờ mọc lại...???
DÒNG SÔNG VÀ CÁNH RỪNG BỐC CHÁY
Bạn tôi viết về những đám mây bốc cháy
Còn tôi thấy dòng sông rực cháy
Cạn khô
Nơi con cá lội
Con tôm búng
Rong rêu xanh đung đưa mình
Giờ phơi đôi mắt đỏ
Rêu oằn mình quắt lại trốn vào khe nứt đáy sông
Cháy
Lửa lan lên bờ
Bén vào cánh rừng
Đôi bàn tay gân guốc
Của lão nông già
Vét bụng sông, vắt nước
Sông quặn mình
Nước ở đâu bỗng dưng trào ngược
Từ thượng nguồn
Mang theo cánh rừng cùng tôm cá, rong rêu
Chỉ còn lão nông già lọt thỏm giữa dòng sông dữ và cánh rừng bốc cháy.
Thầy bảo sẽ chữa cháy... Phải luôn nhìn thấy những cây non chứ... Bài thơ được sử dụng ngay vào 4 ngày sau đó, số Tân Xuân, không phải là một tờ báo quen mình vẫn viết. Có lẽ nó mang tính thời sự chăng? Thầy chữ cháy bằng bài thơ có tràm non...
                       NGƯỜI BÁN CÂY TRÀM CON
                         Có một người vào phố
                         Bán cây tràm con.
                         Những cây tràm ôm nhau đứng thẳng
                         Thành cây bút vẽ chấm vào trời xanh
                         Vẽ ra những vệt chim én
                         Những chấm diều mong manh...
                         Tràm con rụt rè xoè những ngón lá xinh
                         Chỉ ra đầu vàm sóng vỗ
                         Nơi sông Tiền cởi áo chợ
                         Khỏa thân mình.
Thầy nằm bẹp mấy ngày. Thầy chỉ lý giải: " Tại tết dài quá...Tôi còn nhiều việc phải làm. Sẽ tỉnh dậy.". Tràm non đang bám rễ trên mảnh rừng đã cháy. Thầy cũng phải dậy để trồng thêm tràm non khi cánh rừng thưa vắng....Dòng sông nhỏ cá sẽ lại về thầy ạ. ...

Chủ Nhật, 29 tháng 1, 2012

CÂU CHUYỆN BIỂN ĐÔNG, MẸ VÀ NHÀ THƠ


Mẹ kể con nghe câu chuyện biển Đông
Ru Tổ Quốc thưở vua Hùng dựng nước
Sóng gầm lên khi bước chân xâm lược
Chạm đến Tổ quốc mình.
***
Cha con đã hy sinh
Hồn reo lên trên đầu lượn sóng
Cất lên bản hòa ca vang vọng
Dựng lũy thành cùng đồng đội của mình đã ở lại Trường Sa.
Nếu con là nhà thơ, con sẽ viết gì về thế hệ ông cha?
Về chiến thắng huy hoàng, những con người bất tử
Về Thánh Gióng, Lê Hồng Phong  hay chị Sứ ?
Trái tim đập mãi đến bây giờ trong trang sử mẹ đã đọc con nghe từ thưở tuổi lên 3.
***
Nếu con là nhà thơ, con đừng viết những lời ngợi ca
Cho những hào quang vụt cháy lên rồi tắt
Con hãy viết !
Hãy viết đi…
Hãy viết bản hùng ca bất tận.
Biển Đông nổi sóng trái tim mình.
***
Cha con đã hy sinh
Ở trên đầu ngọn sóng 
Hóa  san hô nằm trong lòng biển động
Hóa ánh mắt Hải Đăng nghiêm trang nhìn thẳng thềm lục địa
Rạng san hô chìm nhưng đảo đã nổi lên!
***
Câu chuyện biển Đông: mẹ và  nhà thơ
Viết trên ngực sóng
Lửa đã cháy, lửa từ tim rất nóng
Ngời sáng, trào tuôn trên ngòi viết
Biển Đông vẫn kể suốt đêm thâu về nước Việt
Chuyện vua Hùng  lập nước thưở xa xưa!
 Nguyễn Thị Việt Hà

Thứ Sáu, 27 tháng 1, 2012

NGƯỜI ĐÀN BÀ CÕNG NỔI ĐAU TRÊN LƯNG.

Mẹ cõng nắng trên lưng, cõng mưa trên vai, trên mắt
Cõng con trong lòng
Cõng mình trên những nỗi đau.
Mẹ dạy những đứa con vắt đêm thành bình minh
Vắt cơn đói thành khát vọng
Mẹ nhận về  mình bãi hoang trên cánh đồng nứt nẻ để vỡ đất gieo hạt mùa gió ngược
Mẹ vút ngọn roi mây trên không trung đánh đứa con gái ngỗ ngược cãi cha
Mắt mẹ đọng sương, vai mẹ đầy nắng, ngọn roi rơi trên bậc thềm nhà.
Đứa con gái ôm chầm lấy mẹ
Hạt yêu thương nẩy mầm trên đất vỡ hoang
Thằng con trai thét gọi cha khi đêm đông gió đại ngàn giật tung mái nhà ven núi
Người đàn ông lạnh lùng phủi áo quay lưng
Câu ca vỡ đôi hằn in trên phận người ở lưng chừng bão tố
Bóng mẹ ấn vào vách hằng đêm đợi người đàn ông đã nhất quyết đi ra
Ba đứa con khi ấy vẫn chưa hiểu hết khái niệm về cha 
**** 
Những luống cày phiền muộn trên cánh đồng xa
Người đàn bà không bao giờ hiểu hết nghĩa hai từ hạnh phúc
Chỉ có ruồng rẫy
Đuổi xua
Cực nhọc 
Chỉ biết có  đợi chờ mỏi mòn
Chỉ biết tuổi son hao hụt trăng tròn trăng khuyết
Chỉ có bước chân mải miết
Trên cánh đồng lúa đang độ mang con
Hương quê hương
Thắm trên ngực non của  đứa con gái vừa mới lớn
Trên cơ thể thằng con trai đến tuổi dậy thì
Trên mái tóc màu mây trời của mẹ
Trong câu chuyện phập phồng hơi thở hằng đêm 
*** 
Thời gian quất roi rát  nét nhăn, tô vữa tuổi trưởng thành
Của người đàn bà  cùng ba con lớn lên từ trên lưng cõng nỗi đau của mẹ
Người đàn bà mãi trẻ
Tuổi mãi xanh
Đêm mãi hằn
Bóng người đàn bà vẫn ấn sâu vào bức vách
Trái tim trinh trên cơ  thể đã mỏi mòn. 
Nguyễn Thị Việt Hà 
P/S: Bài thơ đã sử dụng trên Văn Nghệ Trung Ương số 49 ra ngày 3/12 

Chủ Nhật, 22 tháng 1, 2012

GÓI XUÂN

GÓI XUÂN
Trên tay mẹ mùa xuân từ những vết chai sần
Lộc biếc như tóc con, hoa tươi ngời môi thắm
Lòng mẹ ấm nồng bếp lửa đêm giao thừa
Cháy cạn mình bánh chưng xanh chín thơm tận ra giêng
***
Ngoài sân, gió phương Nam gởi nhớ về phương Bắc
“ Ở quê, giờ này Xuân có lạnh lắm không?
Gói nắng cho U hong tóc ướt
Màu trắng mây ngàn chẳng lẫn một sợi đen”
Nước sâm sấp ngập bàn chân ngấm phèn châu thổ
Mẹ tôi ươm xuân bằng hồi ức quê nhà
Dành hết cho con phần xuân tươi thiếu nữ
Còn những lúc lặng mình để ngóng tết xa
***
Hương trầm ơi, mang dòng thơ con viết làm quà
Bà ngoại tôi vẫn ngóng đứa con từ miền Nam không về lâu lắm
Đứa cháu gói nắng thơm của bao mùa lam lũ
Gói vết chai sần của mẹ bừng nở thành lộc biếc ở trên cây.
Để bây giờ… không khói… bếp ấm… mắt cũng cay…
P/s: Khai bút đầu năm, mấy dòng thơ theo nén hương trầm gởi đến Mẹ. Giao thừa ở Miền Tây, tôi vẫn giữ lệ cũ. Nghĩa là con gà, đĩa xôi, bánh chưng xanh cũng tiễn năm cũ… Rồi ngồi lại, trong hương trầm, chỉ nhìn nhau thôi mà hiểu tất cả…
Ngoài kia xuân tràn tận cửa, xuân ngấm vào hồn…!

Thứ Bảy, 21 tháng 1, 2012

BỨC TRANH CHỢ TẾT

21/01/2012 21:09  |  1 lượt xem
Thứ Bảy, 21/01/2012, 06:42 (GMT+7)
Bức tranh chợ Tết
ATX -  Có lẽ Tết ngọt ngào lung linh rộn niềm vui lại là những ngày nằm trong ký ức tuổi thơ tôi, khi tôi 12 tuổi.
Ảnh: Rod
Giáp Tết. Mẹ dắt ba đứa chúng tôi đi chợ phiên, dặn dò kỹ lưỡng rằng chợ ngày Tết đông người vì thế phải bám vào mẹ không bị lạc mất. Chợ phiên ngày Tết nêm chặt người, tràn ra ngoài mặt đường, kéo dài cả một con phố.
Phiên chợ Tết rất nhiều màu sắc: màu sắc rực rỡ của tranh Đông Hồ, câu đối đỏ, màu vàng của cam quýt, màu xanh của trầu cau chen lẫn với màu đỏ của mận hồng, những hàng bán lá dong mướt xanh cùng lạt buộc bánh trắng muốt, màu đỏ sậm của những tràng pháo, màu hồng phớt hoặc đỏ thắm của hoa đào...
Âm thanh của chợ Tết cũng đặc biệt hơn ngày thường, tiếng rao hàng, tiếng kêu của gà vịt, lợn con. Hương Tết thấm đẫm: mùi thơm của bánh mứt, mùi beo béo của lòng lợn, chả giò, mùi hăng hăng của trầu cau, mùi ngai ngái của lá dong, mùi thơm nhẹ của hoa tươi, mùi nồng ấm của nhang trầm...
Trong cảm nhận non nớt của một đứa trẻ 12 tuổi như tôi thì dường như bao nhiêu màu sắc, hương thơm và sự no đủ của cả năm dồn cả vào những phiên chợ Tết.
Thích nhất là đêm 30 cùng mẹ trông nồi bánh chưng. Mẹ nấu nước lá mùi, lá thơm bảo chúng tôi tắm táp cho sạch sẽ, thơm tho. Ngọn lửa vờn quanh nồi bánh. Chúng tôi ăn ngon lành những củ khoai, củ sắn mẹ lùi chín thơm phức, nghe mẹ kể chuyện ông bụt, bà tiên rồi ngủ thiếp.
Gần đến giao thừa, mẹ đánh thức chúng tôi dậy, trách yêu: "Bảo là trông bánh với mẹ mà đứa nào cũng ngủ say như cún con ấy. Dậy nào, cùng mẹ cúng tổ tiên đón giao thừa". Mẹ đã vớt bánh ra khi nào chẳng biết, mẹ còn chuẩn bị mâm cúng có xôi gấc, có con gà ngậm quả ớt, có đĩa bánh chưng nóng hổi thơm phức.
Nhiều năm sau tôi không còn được đón Tết ở quê ngoại nữa. Sau ngày mẹ mất, chị em tôi lưu lạc tận miền Tây, cuộc sống cơ cực khiến có những năm Tết đến mà chúng tôi không có Tết.
Giờ đây, sau những ngày tháng vất vả là những ngày chúng tôi được sống thong thả, yên ấm với nghề dạy học của mình... Những ngày cận Tết như thế này tôi nhớ Tết nôn nao, ước ao một lần trở lại với cáiTết trong ký ức tuổi thơ, được đi chợ phiên, được nằm trong lòng mẹ, bên nồi bánh chưng say ngủ...
NGUYỄN THỊ VIỆT HÀ
http://tuoitre.vn/Ao-trang/471817/Buc-tranh-cho-Tet.html
P/s: Bài đã sử dụng trên Áo Trắng số Xuân Nhâm Thìn 2012 ra ngày 26/12/2011

Thứ Sáu, 20 tháng 1, 2012

ĐÊM NAY TA THẤY LÒNG MÌNH LÀ BÀN PHÍM

ĐÊM NAY TA THẤY LÒNG MÌNH LÀ BÀN PHÍM
Thế là bàn phím nở hoa hồng
Em hái tặng những người say nhau trên mạng
Mạng thì ảo
Hoa thì rất thực
Dòng chữ em lùa trôi êm
                                         trôi êm...
Buổi tối ta ngồi cạnh nhà em
Nghe hương thơm bay xuyên qua vi tính
Đêm nay!
Đêm nay! ta thấy lòng mình là bàn phím
Sáng mai này trổ nụ tặng riêng em...
Vào những thời khắc như thế này, mình thường rất khó ngủ. Chợp giấc đã giật mình ngỡ sáng nhưng đêm còn ru ngày ngủ. Bài thơ “ Đêm nay ta thấy lòng mình là bàn phím” là của một nhà thơ viết tặng cho mình khi đọc truyện ngắn: “ Hoa hồng trên bàn phím”. Lẩn thẩn, đêm nay, chính mình thấy lòng như bàn phím. Để rồi khi lách tách gõ gõ như thế này, mình thấy yên ổn hơn.
Xuân rồi… Trên cung đường đầy ổ gà và bụi của ngày hôm qua mình đã thấy mai bật vàng; cỏ đang thay màu mới, những loài hoa lạ bừng nở mà chẳng bao giờ ta nhớ hết tên được, dọc con đường đất khô hanh như đang vọng lên những tiếng nảy mầm tí tách, khu vườn lộc non đã khảm trên thân cây những chấm lấp lánh; mọi người tất bật cho ngày cuối năm vẫn kịp hào phóng tặng nhau nụ cười và lời chúc tụng; cô thiếu nữ e ấp khi chàng trai nhìn trộm vẻ tươi hồng trên khuôn mặt;  người mẹ trẻ ôm còn vào lòng, bầu sữa nóng ru cô bé vào giấc ngủ sâu. Mình ấm áp, dù không rõ hơi ấm ấy từ đâu. Có lẽ một bếp lửa hồng luôn chảy đỏ sẵn có được chăm chút từng ngày bởi những người đã yêu thương mình. Để mỗi khi, dù có lòng có lạnh đến mấy mình vẫn thấy một nơi nào đó rất ấm đang đợi mình.
Nếu bạn hỏi mình hạnh phúc không? Cách đây vài năm hẳn rằng khó khăn lắm mình mới nói được rằng… Mình hạnh phúc lắm! Còn bây giờ, bạn nhìn vào mắt mình đi, nhìn vào cách mình đang sống, nhìn vào con đường mình đi qua bạn sẽ thấy hiển hiện lên niềm hạnh phúc không che dấu. Mình từng nhủ rằng: hạnh phúc rất thực với người này nhưng ảo mộng với người khác, thấy hạnh phúc như chiếc bong bóng xà phòng ngũ sắc lấp lánh nhưng chưa kịp chạm đã vỡ mất rồi. Trải qua nhiều sóng gió, giờ mình mới hiểu, hạnh phúc như một cái cây ngoài trời, cần chăm sóc khi non nớt, cần trân trọng cho dù đã trưởng thành. Đừng đòi hỏi quá nhiều những thứ không thuộc về mình, quá xa với mình… Chỉ cần được sống trong không gian vừa đủ, một cảm xúc vừa đủ của cái chung như thế đã là hạnh phúc. Hạnh phúc với mình giản dị như những ngày mình đang sống với tình yêu thiêng liêng hơn tất thẩy mọi thứ trên đời mà mình đang có! Sau này các con lớn, mình sẽ kể con nghe rằng: Ngày xưa khi có Đậu Đỏ mẹ đã rất hạnh phúc nhưng vẫn thấy nó xa, khi có Đậu Xanh mẹ thấy hạnh phúc thật gần. Hai hạt đậu của mẹ đáng yêu đến mức mẹ chẳng có lý do nào để không yêu đời cả!
Một năm… Cười vẫn như xưa nhưng khóc khác xưa rồi. Cuộc đời vốn công bằng, kết thúc cái này lại là sự khởi đầu cho cái khác. Có một người con gái chỉ mong một chút khát khao được tự do bay qua mỏm núi để hót thật lòng bằng chính giọng hát của  loài chim quyên trong ngày mới...Mình đã thầm thì xin đừng bắt chim Quyên ngừng hót. Có 1 truyền thuyết về con chim chỉ hót 1 lần trong đời nhưng tiếng hót hay nhất thế gian. có lần nó rời tổ bay đi tìm bụi mận gai và tìm cho bằng được mới thôi. Giữa đám cành lá gai góc, nó cất tiếng hót bài ca của mình và lao ngực vào chiếc gai dài nhất nhọn nhất. Vượt lên nỗi đau khổ khôn tả, nó vừa hót vừa lịm dần đi và tiếng ca hân hoan ấy đáng phải cho cả đàn sơn ca, họa mi phải ghen tị. Con chim mang chiếc gai nhọn xuyên qua ngực vẫn tuân theo một quy luật bất biến, không hiểu điều gì đã thúc đẩy nó tự đâm suốt vào tim và lịm dần trong tiếng hót. Vào lúc gai nhọn xuyên qua nó không ý thức được cái chết đang chực chờ. Nó chỉ mãi mê hót và hót cho đến khi không còn hơi thở để cất thêm một nốt nhạc nào nữa Những gì tốt đẹp nhất chỉ có thể có được khi ta chịu trả giá bằng nỗi đau khổ vĩ đại. The Thorn Birds có thể được xem là tiểu thuyết nổi tiếng nhất của nữ văn sĩ người Úc Colleen McCulough, được xuất bản năm 1977. Mình đã đọc bộ tiểu thuyết này khi chưa được gọi là thiếu nữ. Lúc ấy, khi hơn 14 tuổi, trái tim mình buốt lên khi chiếc gai mận xuyên tim nàng chim bé bỏng. Gần sát nhà mình khi ấy có một người đàn ông bẫy chim giữa muôn trùng mây, mình đã rất ghét ông ấy. Tiếng chim khi sa lưới hốt hoảng, tội nghiệp, tuyệt vọng làm sao.
Sau này, gặp những chuyện nhói lòng hơn thế nữa, mình mới hiểu được rằng khi người ta tuyệt vọng nhất là lúc người ta không nói được bất cứ điều gì. Ngay cả khóc, nước mắt như cô đặc lại thành một thứ đắng ngắt dội ngược vào ngực. Mình đã kể quá nhiều về mẹ nhưng chẳng bao giờ đủ… Khi đọc “ Hãy chăm sóc mẹ” của Shin Kyung-sook, mình đã thấy những gì mình viết về mẹ thật chẳng thể đủ lấy một ngày trong cuộc đời 48 năm của mẹ. “Mẹ bị lạc đã một tuần”Cuốn sách đã mở đầu chương 1 bằng dòng chữ ấy. Không hiểu sao, lòng mình  lặng đi, ngay cả khi câu chuyện chưa thực sự bắt đầu, cũng như mình chưa hề nhìn ra cái kết của nó…   Mình đã rất ghét đàn ông cho đến khi biết yêu mới hiểu được chân lý giản dị rằng: dù có mạnh mẽ thế nào, dù trong lòng tồn tại biết bao ẩn ức thì cái người đàn bà cần nhất vẫn là đàn ông!
Mình đã từng tuyệt vọng, từng nói và làm những điều rất ngớ ngẩn thậm chí điên rồ. Bay… cảm giác bây trên tầng trời không phải của mình vô cùng đáng sợ, trái tim nóng bỏng nhưng những lưỡi dao của trí óc bén ngọt tùng xẻo không thương tiếc một bến bờ tưởng tượng. Chúng ta vẫn đi tìm sự cứu rỗi ở các đấng siêu nhiên mà ít nhận ra rằng đấng tối cao có quyền huỷ hoại hay phục sinh một tâm hồn, một con người không ai khác chính là chúng ta.
Mình đã từng yêu nỗi cô đơn bằng tất cả sự nguỵ biện của vốn tri thức được cấp bằng đỏ. Run rẩy bấm phím, thấy 10 đầu ngón tay như mòn đi, không dừng lại được… Tác phẩm nào mình viết cũng như tác phẩm đầu tiên, khi một chữ cái rớt xuống nơi bàn phím, nẩy lên màn hình và rồi xuyên đêm, gục lên bàn phím, một đống dây nhợ buộc chặt, thít lấy nghẹn thở.
Nỗi cô đơn, niềm tuyệt vọng chẳng thể nào để mình thanh thản được. Vậy thì, tại sao tự vây mình trong căn phòng tăm tối ấy. Mình thông các cửa sổ, đón khí trời, nhận ra phía trước đường chân trời rất rõ nét. MÌnh có quyền rủ bỏ lớp áo xấu xí ấy để được mặc chiếc áo hạnh phúc tươi hồng.
Cách đây 3 năm, khi dừng chân ở một nhà sách thuộc tỉnh Bắc Ninh, mình tìm thấy Thiên Táng của Hân Nhiên. Nơi mình đứng mọc rễ, xin thanh toán tiền sách và ngồi bệt xuống hành lang để đọc. Ngay trang đầu tiên không thể rời. Đó là câu chuyện về một người phụ nữ phi thường được viết nên bởi một người phụ nữ phi thường khác. Mình nhắm mắt lại, đem linh hồn vươn cao đến trời xanh, xuyên qua mây trắng bồng bềnh nhẹ hẫng, đến với vùng đất cao nguyên linh thiêng huyền bí ấy. Tây Tạng! Khả Quân, buông súng, phủ phục trên mặt đất, thân thể anh bị xẻ ra, xương bị đập nát, trộn với bơ sữa, từng chút từng chút một bị bầy kền kền ăn mất. Mình nhìn thấy như thế, trong trang sách nhưng Thư Văn, vợ anh không tin điều ấy. Người con gái Tô Châu tuổi xuân còn mơn mởn dần trở thành người phụ nữ trung niên Tây Tạng. Thiên táng là cuốn sách kể về cuộc hành trình của một người con gái Trung Quốc tuổi đôi mươi, vượt nghìn trùng xa cách đến đất Tây Tạng để tìm kiếm tông tích của người chồng mới cưới. Câu chuyện được Hân Nhiên ôm ấp trong 10 năm ròng rã, trong nỗi day dứt sau cuộc gặp gỡ với người đàn bà bí ẩn mang tên Thư Văn, 1 người đàn bà Tây tạng có xuất xứ là người Trung Quốc. Khi ngẩng lên, chiều đông đã xám lại, chủ hiệu sách cũng đã nhắc mình ngồi quá lâu… Khoảng hơn 20km ngược cơn gió bấc mình trở về nhà và thấy nỗi buồn về thân phận tình yêu của mình thật chẳng đáng là gì. Người ta có thể yêu nhau đến cả khi chết đi rồi kia mà. Như Thư Văn ấy, Khả Quân dù có bị kền kền rỉa mất xác thì anh vẫn sống trên hành trình cuộc đời của Thư Văn. Thư Văn sẽ vẫn đi tìm Khả Quân, nhân danh tình yêu!
Mình đang nói những điều linh tinh gì thế nhỉ? Có thể là một câu chuyện không đầu không đuôi. Về mùa xuân mới đến?  Hạnh phúc? Nỗi cô đơn? Đêm nay bàn phím nở hoa hồng ? Những cuốn sách? ... Tất cả những điều đó mà  có khi không  phải. Giữa muôn ngàn hữu hạn người đàn bà trong mình vẫn đến được với mùa thu.
P/s: Khuya rồi nhỉ? Cũng cần ngủ thôi… Mùa xuân cho phép tất cả chúng ta tươi trẻ!
Nguyễn Thị Việt Hà

Chiếc ghế đá đơn trong công viên

Chiếc ghế đá đơn trong  góc khuất công viên dường như chỉ dành cho những người như nàng: buồn và cô độc. Như chiều nay, nàng ngồi đó, lặng im nhìn những bông bằng lăng cuối cùng rụng xuống. Sắc tím câm lặng như màu đợi chờ vô biên khoác lên phận đàn bà.

Nơi này, khi nàng 19 tuổi đang say mê đọc “ Cuốn theo chiều gió” một thanh niên đi qua va mạnh, cuốn sách rớt  xuống. Anh bối rối nhặt lên, liếc qua tựa sách chậm rãi nói: “Tôi chưa từng biết Chiến tranh và những giáo điều lại có thể hủy hoại con người một cách thảm hạiđến mức tư tưởng và suy nghĩ của họ bị ức chế, cuộc đời và tình yêu của họ bị chôn vùi trong đau khổ nếu như tôi không đọc cuốn sách bạn đang đọc”. Nàng mỉm cười, nhìn chàng trai, thoáng giật mình khi chạm nhẹ vào tay chàng lúc nhận sách. Nụ cười của anh tươi sáng, ánh mắt ấm áp, nàng lúng túng khẽ nói: “ Anh hiểu cuốn tiểu thuyết này hơn cả tôi nữa đấy! Thú vị thật!”.

Họ cùng ngồi trên chiếc đá đơn cuối công viên và say sưa nói với nhau về cuốn sách họ thích, về tình yêu của Scarlettvà Rhett Butler. Nàng kể rằng đã đọc“Cuốn theo chiều gió”lần đầu khi mười lăm tuổi và thích cả Scarlet O’Hara lẫn Melanie Halminton. Một mạnh mẽ và nổi loạn, một an hòa và vững chãi. Chàng trai lại nói rằng anh ấn tượng nhấthình ảnh Scarlett đứng trước Tara một cách kiên định. Chàng trai và cô gái chia tay nhau khi nắng đã hắt nửa công viên. Họ kịp trao nhau số điện thoại và quay bước về hai phía. Chợt chàng trai gọi với theo: “ Tôi là Lê Nam, em nhớ nhé!”. Nàng đáp lại: “ Tôi nhớ rồi. Hoài Thu là tên tôi!”. Nàng biết, nàng yêu Nam từ giây phút ấy khi bắt gặp ánh mắt nồng nàn của anh. Tình yêu đôi khi thật kì lạ, chợt đến và gieo vào lòng những khoảnh khắc khó quên. Nàng chưa bao giờ tin “ tình yêu sét đánh”, cho rằng đó là tình cảm vội vàng không đủ sức trở thành tình yêu. Nhưng chính nàng đang choáng ngợp cảm xúc về Nam như thể Nam sinh ra là để cho nàng.

Nam nhắn tin cho nàng sau đó vài ngày. Những tin đến và đi mang theo nắng trong công viên. Nàng nhớ anh từng đêm, thổn thức, mong từng tín hiệu tin nhắn nhấp nháy trong điện thoại. Rồi Nam cũng hẹn gặp Thu vào một buổi tối thứ 7. Nàng xoay tròn chiếc váy trắng, lướt son hồng trên môi, nhún nhẩy trên đôi giày cao gót. Đêm nay, nàng sẽ nói anh nghe rằng nỗi nhớ anh kết tủa đầy lồng ngực. Rằng phép màu tình yêu từ cái nhìn đầu tiên là có thật. Đó là điều kì diệu của trái tim khi khoảnh khắc đã trở thành bất tử để ngấm vào da thịt nàng. Rằng khi yêu anh, nàng thật sự được sống và biết ơn buổi sáng gặp anh trong công viên khi anh và nàng ngồi lại trên chiếc ghế đá đơn.
Nam ngồi đó, bên cạnh một cô gái nhỏ nhắn, xinh xắn, tóc tém tinh nghịch. Họ chăm sóc nhau âu yếm. Thu sựng lại, trái tim dội lên những cơn hờn ghen. Nam nói: “ Đây là Phương Thùy. Người yêu của anh. Còn đây Hoài Thu, một cô bạn thú vị anh mới quen”. Ly nước cam trở nên đắng nghét. Nàng cố gắng nén tất cả cảm xúc bùng vỡ của tình yêu mãnh liệt được nín nhịn để có thể mỉm cười khi anh nắm tay người con gái ấy cẩn trọng, ân cần như muốn khẳng định họ sẽ chẳng bao giờ rời xa nhau. Nàng biết không phải vì nàng không đáng yêu hay không xứng đáng mà đơn giản giữa nàng và anh thực sự không có duyên với nhau. Khi rời khỏi nơi này, những con người đang ngồi bên nhau sẽ có người chung đôi sánh bước. Còn nàng, nàng sẽ chọn một lối riêng trong ngã ba tình yêu này. Tình yêu của nàng, anh sẽ không bao giờ biết được.
Nàng vẫn ra công viên mỗi sáng, trên tay cần cuốn sách “ Cuốn theo chiều gió” hy vọng anh sẽ vô tình bước qua đây, vẫn đợi tin nhắn đến hàng đêm. Nhiều lần chợt giật mình thức giấc giữa đêm, nhấn vào điện thoại xem có tin nhắn của anh không. Màn hình trống trơn, cái trống vắng ảm đạm, rồi nàng lại chìm vào giấc ngủ với hình bóng của anh... Nhủ lòng quên nhưng nàng không thể. Nàng âm thầm cầu mong cho anh được hạnh phúc với người con gái anh yêu. Còn nàng, với tình yêu đơn phương sẽ lặng lẽ đi bên đời anh… Nàng sẽ học thuộc lòng bài học chấp nhận và kìm nén nhớ thương. Trên đời này có một thứ tình cảm đau đớn nhất  nhưng cũng vĩ đại nhất : tình cảm mà nàng có cố gắng đến mấy cũng không thể nào đạt được, đó là tình yêu đơn phương. Còn điều gì đau đớn hơn khi  tình yêu mỗi ngày thêm nồng nhiệt không thể gởi trao. Nàng thấy mình cô đơn, nỗi cô đơn cứ lớn dần theo từng ngày, nó bao trùm lên cuộc sống của nàng,  từng bước đi của nàng…Còn gì xót xa hơn khi phải đứng ở một nơi rất xa để dõi theo cuộc sống của anh bởi nàng biết rằng mình không bao giờ có thể bước vào cuộc sống đó.
Đôi lần nàng cùng Nam và Thùy café. Nhìn họ hạnh phúc, nàng khẽ mỉm cười dặn lòng: “Người ta đang hạnh phúc, đó chẳng phải là điều mình mong muốn hay sao?".Hạnh phúc xuất phát từ việc cho đi chứ không nhận lại, nàng nhủ mình, có lẽ ngày mai thôi sẽ có một người con trai khác mang tình yêu và hạnh phúc đến cho nàng! Nhưng nàng vẫn yêu anh bằng tất cả những gì con người nàng có.Nàng sinh ra để sống, sống để yêu và bình yên như ánh sáng…
Một ngày, Nam rủ nàng đi uống rượu. Hơi ngạc nhiên nhưng nàng cũng đồng ý. Nam buồn, nước mắt con trai lăn xuống khi ngà say. Anh và Phương Thùy vừa chia tay nhau…
Namđi bên nàng trong công viên. Anh thầm thì: “ Anh chưa từng gặp người con gái ấm áp hơn em. Anh yêu em”. Nàng hạnh phúc đến nghẹn thở… Cuối cùng điều nàng chờ đợi đã đến. Nhưng đêm ấy, Nam lại say, anh gọi tên Thùy. Tha thiết, nồng nàn và đau khổ. Nàng như muốn chết đi… Sáng hôm sau, khi Nam tỉnh, họ cùng đi dạo trong công viên. Nam lại thầm thì : “ Anh yêu em!” nhưng Thu đã từ chối lời yêu của chàng trai mà nàng đã yêu cạn lòng. Nam sững sờ không tin những gì Thu vừa thốt lên. Anh không bao giờ biết được rằng: nàng đã yêu anh ngay từ cái nhìn đầu tiên và âm thầm bên anh suốt những năm tháng anh say mê trong tình yêu với Thùy. Nàng từ chối, không phải hết yêu anh mà chính là nàng không thể yêu một thứ tình cảm chưa tồn tại.Tình yêu là điều kỳ diệu nhất nó có khả năng đem lại cho ta mọi cảm giác, mọi trải nghiệm từ thiên đàng xuống đến địa ngục. Có thể một ngày kia anh sẽ  tìm Thùy, nói rõ nỗi lòng và họ lại bên nhau. Trái tim Nam không dành cho nàng. Nàng sẽ giữ lại Nam trong góc sâu nhất của trái tim. Đối với nàng, chỉ cần tình yêu mãi vẹn nguyên, mãi đẹp đẽ trong lòng, mãi nồng ấm yên bình một góc nhỏ nơi trái tim là đủ. Cho dù đơn phương, cho dù dang dở…Hơn một lần nàng muốn đưa tay ra níu giữ, nắm chặt lấy sợi dây hạnh phúc vô hình. Nhưng dường như hãy cứ để tình yêu của nàng với Nam dở dang như thế chẳng hay hơn khi bên nhau mà chẳng phải của nhau, phải thất vọng về nhau.
Buổi sáng nàng vẫn đi dạo trong công viên. Người con gái với nụ cười tươi nhưng có một đôi mắt buồn, tóc dài buông xõa. Hoa bằng lăng không thôi tàn tạ mỗi độ sang thu, chiếc ghế đá đơn vẫn chỉ có những kẻ lẻ loi như nàng ngồi. Từ lúc ấy, đôi tay nàng luôn cất tay vào túi áo mỗi khi đi dạo trong công viên và không cầm theo sách..
Nguyễn Thị Việt Hà

Thứ Ba, 17 tháng 1, 2012

CHIẾC LÁ CUỐI CÙNG

Thứ Hai, 16 tháng 1, 2012

Tết ấm

16/01/2012 17:58  |  3 lượt xem
Bà Sáu Hài ngồi bó gối nhìn mấy lỗ dột trên nóc nhà. Tết nhứt đến nơi rồi mà nhà cửa như vầy bà nhót ruột hết sức, bữa trước bà bắc cái ghế cao kéo tấm cao su che ngang, bất cẩn thế nào cái ghế sẩy chân bà té, đau muốn ná thở. Người già mà, xương ròm rụm như xương con gà, bà đau cả tháng trời. Bà Sáu Hài đợi hết mưa đi cắt cá mai đặng kiếm cơm qua ngày.
Hồi bầy kì, bà Sái Hài cũng có chồng con, trời không thương, năm bão số 5 ( 1997) ở miệt Cà Mau này  cuốn đi mấy nhân mạng của Làng Cá trong đó có ông Sáu Hài và thằng con trai độc nhứt tròn trèm 17 tuổi. Bà thành cô quả từ đó, sống nhờ vào nghề cắt cá mai, cá cơm, mỗi kí 4500 đ. Làm nguyên ngày bà cũng mần được 6,7 kg gạo để dành ăn lần. Đôi tay bà lanh lẹ, khéo léo. Con cá cơm, cá mai nào bà mần cũng y rang như nhau, bà lấy xương, cắt vây, lật đôi con cá. Chủ vựa thương thường cho thêm mớ cá vụn, bó rau đặng bà nổi lửa nấu cơm có thêm chút đồ ăn.
Đợt này gió chướng lạnh hơn mọi năm, mưa còn nặng hạt, nước lên từ giữa khuya đến 8,9 giờ sáng mới chịu rút. Trên dột, dưới nước dâng, bà Sáu Hài buồn héo ruột nhìn lên trang thờ chồng con, bà khóc hờ. Mai mốt bà cũng đi theo cha con ông Sáu biết ai lo nhang khói.
Rút mưa, bà lật đật kéo cái chân đau sang bên cô giáo đặng nhờ chồng cổ leo lên nóc che tấm cao su chống dột ăn tết cho nó an. Cô giáo đi dạy, chồng cô giáo đang sửa cái hàng rào. Nghe bà Sáu nhờ, bỏ việc đó chạy qua ngó. “ Tấm cao su cũ mèm vầy sao sao chịu thấu Sáu? Che mấy hồi nó cũng  rách hà. Phải có tol lợp lên”- chồng cô giáo là bộ đội mới về phép phân vân nói. Bà Sáu cười, cái mặt hiền queo tội tội: “ Thì làm đỡ vậy mà. Không lẽ tết nhứt để dột ngay trang thờ cha con ổng?  Để đợt cá cơm này tui mua mấy tol mới…”. Anh bộ đội leo lên mái nhà, cả thân nhà lúc lắc, anh toát mồ hôi hột. Rồi cũng xong, anh cẩn thận cột chắc bốn đầu, đè mấy cục gạch cho gió khỏi lật.
Nhưng bà Sáu không làm cá mai, cá cơm con nước tới. Bà bị bệnh, cái chân té đợt hổm sưng vù bị rạn xương, may có sổ hộ nghèo nên nằm ở trạm đỡ tốn tiền nhưng số tiền dành dụm lo tết hết veo. Bà Sáu nằm viện cả tháng. Mấy cô hộ lý vui tánh còn chọn bà là “ Trưởng phòng bệnh nhân”.
Bà được xuất viện về ăn tết. Bùi ngùi, mớ tiền lẽ không đủ mua kí nếp gói bánh tét nói chi mua sắm thêm thứ gì. Nhưng trời ơi…Cánh cửa tol sáng bóng này là nhà bà đó sao? Tấm liếp đan sậy thưa  làm cửa mục muốn trồng cải được đâu rồi? Bà lật đật chạy sang nhà cô giáo lấy chìa khóa ( trước khi nhập viện bà có gởi). Vợ chồng cô đi chợ tết, cô con gái học lớp tư đưa chìa khóa cho bà. Bà mở cửa… Trời thần, trang thờ dán giấy bông láng cóng, mấy cái ly trà được thay mới, dĩa trái cây, cặp bánh tét chưng lên trang trọng. Bà dòm thấy cha con ông Sáu cười cười. Bà có nằm mơ không?
-         Bà Sáu ơi, má con mua cho ông Sáu đó. Ba con còn lợp mấy tấm tol mới lên mái nhà, ba biểu bà ăn tết mà dột cực lắm. Hôm qua bác Tư Hơn chủ vựa cá mai còn đổ đầy khạp gạo dưới bếp cho bà Sáu nữa đó – Thảo, con gái cô giáo thỏ thẻ sau lưng bà.
Bà run run thắp nhang, nước mắt bà chảy vòng quanh. Bà lầm rầm khấn: “ Bữa nay hai ba tháng chạp , ông Táo chầu trời, ông với thằng Hai về đây ăn bánh tét nghĩa tình với tui. Tết này cha con ông ấm nghen…”
Nguyễn Thị Việt Hà

Thứ Ba, 10 tháng 1, 2012

CÀ MAU VÀ TÔI.

CÀ  MAU VÀ TÔI.
(Bút kí: Nguyễn Thị Việt Hà  )
Năm 1996, tôi trở lại Cà Mau sau khi cùng mẹ xuôi ngược dọc ngang đất nước. Tuổi 17 tôi có nhiều khát vọng như chàng Damsan vượt rừng sâu tìm miền đất đen của bà Sunyrit. Cà Mau khi ấy còn hoang sơ lắm, giữa thành phố vẫn còn lau sậy mịt mù chen lẫn với sự sầm uất của các khu chợ, các cung đường nhỏ và hẹp, nhà lô nhô lấp xấp lẫn lộn giữa các khu cao tầng và khu ổ chuột kế bên. Lần ấy, tôi trễ đò phải ở lại bến Tàu A một đêm, mướn chị chủ quán bún nước lèo cái võng tòng teng treo trên hai cây tràm trước bến tàu nằm ngủ, quấn chặt tấm mền cũ vẫn nghe muỗi vo ve, eo sèo ngay bên tai.
Nói là  ngủ chứ thực tình cũng không ngủ được, tôi ngồi kế bếp lửa đỏ của chị bán bún, kêu một tô bún vừa ăn vừa nghe mấy anh xe ôm nói chuyện râm ran. Toàn là xe 67, cả một bến đông đúc chỉ là xe 67, chú ngựa sắt đường trường rất hợp với miền tây, nơi những con đường gập ghềnh gấp khúc chen lẫn với kênh rạch chằng chịt. Thuở nhỏ, khi đọc Đất rừng phương Nam của Đoàn Giỏi, tôi cứ cố hình dung về một vùng đất, nơi mà “sông ngòi, kênh rạch bủa giăng chi chít như mạng nhện” và “trên thì trời xanh, dưới thì nước xanh, chung quanh mình cũng chỉ toàn một sắc xanh cây lá...”. Cà Mau trong tôi khi ấy qua sự mường tượng từ những trang văn đã khiến tôi mê đắm, trong một góc bến tàu tôi ngóc cổ nghe mấy bác xe ôm kể chuyện bác Ba Phi như: Cọp xay lúa, Rắn hổ mây tát đìa, Ong gác kèo trên bắp chân người mà cười lăn lóc giòn tan xé đêm để đón bình minh.Đó là ông vua nói dóc của xứ sở Cà Mau, nhưng nói dóc một cách chân thật lừng danh cả nước .Tôi xuôi đò đi Cái Nước về Cái Đôi Vàm, những cái tên mới nghe đã thấy Cà Mau đầy ăm ắp. Màu xanh ngút ngàn trong trang văn của Đoàn Giỏi hiện ra trước mắt tôi, như được bơi trong không gian xanh ấy, như được uống lấy màu xanh ngan ngát, lìm lịm ấy mà ôm hết vào lòng hương đất, hương rừng. Chân trời như đang hiện ra trước mắt, như chỉ nhoài người với tay là chạm tới nhưng tàu cứ xé nước mà đi về phía chân trời ấy, càng đi càng rộng ra. Sắc chân trời như cùng với nắng mà đổi màu theo sắc cầu vồng. Hơn 300 năm mở đất, bước chân cha ông đặt đến đâu đất sinh đến đó. Những cái tên, những địa danh, đền đài từ trong huyền thoại như: Hòn Khoai, Hồng Anh thư quán, đình Tân Hưng, bến Vàm Lũng, đường Hồ Chí Minh trên biển, các kiến trúc nghệ thuật của hơn 100 đình, chùa, nhà thờ, thánh thất của người Việt, người Hoa và Khơme... Đã tạo nên bề dày lịch sử ở vùng đất này. Tôi cảm nhận rất rõ ràng như nghe được nhịp thở đất sinh sôi qua doi bùn vươn dài ra biển  mà tự hào về sự khai sinh mở cõi của bao lớp người trước.
      Rừng Bần, đước, mắm, sú vẹt lướt qua trước mũi tàu xõa tung tóc nước trắng xóa, qua nhiều con sông lắm lối, lắm ngã rẽ nhưng người Cà Mau ăn ở chỉ một lòng. Những tên sông Cái Rắn, Cái Nước, Đầm Cùng, Chà Là, Cái Keo, Bà Hính, Bảy Háp, những  tên gọi: cây bồn bồn, quả bòng bong, kẹo thèo lèo, cá thòi lòi, bo bo… nghe là lạ, nghe thương thương bởi chất đồng ruộng thấm đẫm Cà Mau đến tận cùng. Tôi hình dung vạt rừng đước với chùm rễ cắm chặt vùng đất bãi bồi vừa giống cái nơm úp cá vừa giống dáng người nông dân đang lom khom cấy lúa. Vạt dừa nước với ô rô vây kín mặt bùn xanh như chẳng thể xanh hơn. Lâu thật lâu mới nhìn thấy một ngôi nhà ven sông dáng u tịch, trầm buồn, mặt hướng ra phía sông, xung quanh nhà xăm xắp nước. Tôi hỏi một bác ngồi gần loài cây mọc dọc theo các bờ sông, rạch có rễ là lạ không cắm xuống đất và vươn thẳng lên khỏi mặt bùn mới biết là cây mắm. Bác gọi những chiếc rễ phụ ấy bằng cái tên gọi quê mùa “ cặc mắm” khiến tôi bật cười. Thịt cây mắm dai, các thớ xoắn chặt vào nhau khó cháy nên củi mắm là thứ củi dành cho người nghèo và những lò hầm gạch ngói. Trái mắm rụng đầy mặt nước làm thức ăn cho ba khía. Biết bao năm khai hoang mở đất, xứ xở Cà Mau, cây mắm vẫn miệt mài sinh sôi nẩy nở với vùng đất sình lầy.
 Năm 1999,tôi tốt nghiệp CĐSP Minh Hải với tấm bằng loại ưu, lóc cóc xuôi xe đò rời Bạc Liêu xuống Cà Mau nhận quyết định công tác tại Tân Hưng Tây. Rất vất vả ,cuối cùng tôi cũng tìm được trường. Ôi chao,mênh mông là nước , trường lọt thỏm giữa một bùng binh nước, trường chỉ là mấy căn nhà lá đơn sơ , nhìn thấy mà thương! Thầy hiệu trưởng rất dễ mến, đón tôi bằng nụ cười cởi mở thầy dắt tôi đi lòng vòng xung quanh trường và thưởng cho cái bụng đói meo của tôi một bữa cơm đặc trưng miền Tây: canh chua cá lóc,cá rô kho tộ. Tôi tạm ở nhà thầy, đó là một căn nhà lá rộng thênh. Đêm đầu tiên ở trường, tôi trằn trọc không sao ngủ được. Gió từ ngoài sông thổi vào lồng lộng, tiếng tu hú, vạc đêm kêu não nuột buồn hơn trấu cắn. Xứ gì đâu chẳng có người, lác đác có vài căn nhà, chợ không có, chỉ có vài căn tiệm nghèo nàn. Trường ít lớp, ít giáo viên, giáo viên đào tạo chính qui rất hiếm, phần lớn là giáo viên hợp đồng ( chỉ học qua lớp 9). Trường nằm  trụi lơ giữ cù lao bình bung Cái Bát, làm bằng lá, lợp liptol xi măng, nền đất, bàn ghế gần như không cái nào nguyên vẹn. Đó cũng là thực trạng chung về trường lớp cho cả tỉnh Cà Mau còn đang rất khó khăn lúc ấy. Tôi ngóc cổ nhòm qua khe vách, trăng thượng tuần hào phóng phủ giát bạc khắp nẻo càng làm tăng vẻ vắng lặng cho khung cảnh. “ Đất lành chim đậu”, tôi bén duyên Cà Mau ở lại dạy học đến giờ.
 Năm 2000, tôi có dịp đến Đất Mũi. Mũi Cà Mau, mũi tàu của tổ quốc đang băng băng xé sóng lao về phía trước tưởng xa xôi vời vợi giờ đây tôi đã được đến. Một cảm xúc thiêng liêng dâng trào khi đứng trên mảnh đất tận cùng cực Nam của tổ quốc thân yêu: ấp Mũi, xã Đất Mũi, huyện Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau - GPS 0001 - Mốc tọa độ Quốc gia, 8037’30” Vĩ độ Bắc, 104043’ Kinh độ Đông. Mũi Cà Mau là cuộc đất trẻ và yên bình nhất nước.Đứng trên Đài quan sát cao 21ở Đất Mũi Cà Mau nhìn ra biển thấy đảo Hòn Khoai rất gần, phóng tầm mắt ra xung quanh thấy biển nước mênh mông và rừng đước, mắm xanh xanh bạt ngàn. Chính nơi đây được mệnh danh là: mặt trời mọc ở biển Đông (phía tay trái) và lặn ở biển Tây (phía tay phải). Đặt chân đến địa phận Đất Mũi. Chạm tay vào mốc tọa độ, cảm giác thiêng liêng, xúc động nhìn lá cờ Tổ quốc tung bay, thấy yêu biết bao đất nước này. Mũi thuyền, biểu tượng Đất Mũi với lá cờ đỏ sao vàng phấp phới kiêu hùng giữa trời xanh và mây trắng. Tôi cầm trên tay nắm đất cuối cùng của tổ quốc rưng rưng muốn khóc.
Năm 2011, ngót nghét 15 năm tôi hắn bó với Cà Mau. Cà Mau đâu chỉ là rừng tràm, rừng đước. Cà Mau với tôi là tình đất tình người, là nỗi nhớ hun hút trong từng giấc chiêm bao tới giật mình chợt thức. Là con sóng vỗ cuối trời tổ quốc…Nhịp tim tôi thấmnhững giọt nước mưa ngọt ngào rớt đều trên mái tôn dành cho mùa nước mặn nuôi mình. Tôi vẫn uống gáo nước mưa lâu năm giữa mùa nắng gắt như người miền Tây thứ thiệt và ăn không biết no chén cơm nóng hổi bốc hơi với ba khía muối mặn mòi. Tôi quen với âm thanh củachiếc vỏ lãi chạy sành sạch trên dòng kinh đổ về miệt U Minh Hạ mà tưởng chừng như tiếng nhạc êm đềm quen thuộc của vùng sông  nước…
Cà Mau của 15 năm sau không giống như Cà Mau khi tôi mới vừa đặt chân đến. Cà Mau trở thành một tỉnh giàu tiềm lực kinh tế, nhất là tiềm lực kinh tế biển, tiềm lực rừng ngập mặn. Cà Mau cũng là một tỉnh khá năng động trong chiến lược phát triển kinh tế đặc thù của mình. Vẫn còn đó dấu ấn làng rừng qua hai cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại, vẫn còn đó dòng máu hùng anh của bao thế hệ đổ xuống đất này để hôm nay, những cung đường rộng mở xòe ra bốn hướng, đưa ta đi thăm An Thới, Cái Nước, Năm Căn, thăm hòn Đá Bạc, thăm Đầm Dơi, Trần Văn Thời và về thăm Đất Mũi.
Gần  nửa đời người, tôi dãi dầu bước chân in khắp miền đất nước mới nhận ra một điều rất giản dị rằng tôi đã yêu Cà Mau như từ trong máu thịt từ bao giờ mà tôi chẳng nhận ra.
Nguyễn Thị Việt Hà

Thứ Hai, 9 tháng 1, 2012

BÌNH MINH TRÊN BẾN NINH KIỀU


BÌNH MINH TRÊN BẾN NINH KIỀU
Bút kí : Nguyễn Thị Việt Hà 
( Tặng Cần Thơ và những anh, chị, bạn bè đang sống trên mảnh đấy giàu đẹp ấy! Tặng Võ Thụy Như Phương - một người cũ của Cần Thơ như một lời khẳng định niềng cũng hiểu - yêu Cần Thơ lắm chứ bộ!)
Xuôi dòng Cần Thơ, về Kinh Xáng Xà No, Giồng Riềng, Miệt Thứ. Bạn gọi điện rưng rưng hỏi thăm con rạch Cái Thia, về hoa tím bằng lăng, về con sông Tắc Cậu… Không nỡ trả lời với bạn rằng ‘con rạch Cái Thia chảy về Tắc Cậu" đã bị con người khai tử, đành nhờ con rạch Cái Thia ở Hậu Giang, Tiền Giang mang dòng chảy tình cảm đổ về tận xứ biển Tây. Dòng nước ngầu đục phù sa, lặng lờ đưa đẩy những khóm lục bình trôi về trăm ngả…
Tôi, một một người không “ rặt” miền Tây đã yêu miền Tây bằng tình yêu của người bản xứ, yêu cây bần trái chua chát hăng hắc, vị của cực nhọc miền châu thổ, yêu từng khóm dừa nước kết thành rừng ven bờ kinh rạch, yêu những chuyến phà miệt mài qua sông, yêu chiếc ghe của khách thương hồ chập chùng con sóng bạc, vén rừng đại ngàn thao thiết mong chờ một cuộc sống đủ đầy.
Dừng chân bên bến Ninh Kiều, tôi chọn căn phòng trong khách sạn bên sông, từ phía hành lang tôi có thể trông thấy cả dòng sông Hậu bát ngát, những chiếc đò chèo đưa rước khách lướt nhẹ như sương như khói trên mặt sông trữ tình, xóm Chài trù phú ở bãi bồi bên kia sông nhấp nhô những mái nhà xen trong rặng cây soi bóng dưới dòng nước hiền hoà nặng đỏ phù sa, phía xa xa cầu Cần Thơ kiêu hãnh lộng lẫy. Người xưa kể rằng: những cư dân người Việt mở cõi đất Phương Nam đã lấy các tên của trận đánh nổi tiếng trong “ Bình Ngô Đại Cáo” của Nguyễn Trãi để đặt tên cho vùng đất mới bên bờ sông Hậu. Bến Ninh Kiều còn có tên là bến Hàng Dương. Bến Hàng Dương ngày ấy tấp nập thuyền bè qua lại giao thương, hàng cây dương chắn gió ven bờ đã thành tên gọi bến. Năm 1957 khi làm Tỉnh trưởng Phong Dinh thời Đệ nhất Cộng Hoà, ông Đỗ Văn Chước đã cho lập nơi bến sông này một công viên rất đẹp. Khoảng sau năm 1958, bến Hàng Dương chính thức đổi tên thành bến Ninh Kiều. Có lẽ tên thành phố Cần Thơ cũng xuất phát từ bến sông này. Tại Ninh Kiều vào những đêm trăng sáng, thuyền bè tấp nập qua lại trên sông, khách tài tử, giai nhân đất Tây Đô thường cùng nhau lĩnh xướng thơ ca. Do vậy, bến còn có tên gọi là Cầm Thi, và chính tên gọi Cầm Thi được gọi trại ra thành tên của đất Cần Thơ bây giờ.
Cần Thơ mùa thu không có nắng mai dịu dàng, không có gió heo may tháng tám nhưng vẫn đủ sức níu thương nhân muôn nẻo tìm về, những bước chân lãng du tìm bến bình yên, khách văn chương luyến lưu bịn rịn… Và tôi, khách tha hương tìm chút lắng đọng trong một ngày lặng gió
Bao nhiêu năm thăng trầm lịch sử, dòng Cầm Thi vẫn dịu dàng một khúc thơ, thâm trầm sâu lắng. Bến Phù Sa nặng lòng xuôi chảy làm nên “ gạo trắng nước trong”. Đặt chân đến bờ Bình Thủy, tôi tạm quên va quyệt cuộc sống để hồn thanh thản theo tiếng chuông rung nơi Nam Nhã Phật Đường cách trung tâm thành phố 5km về phía Bắc thuộc phường An Thới. Nam Nhã Phật Đường thấm đấm máu hùng anh của sĩ phu, văn thân yêu nước trong cuộc cách mạng nhân dân Cần Thơ trong thời kì chống thực dân Pháp. Cồn Bình Thủy nằm giữa dòng sông Hậu cuồn cuộn chảy theo những lớp sóng bạc đầu.
Buổi bình minh châu thổ, thong thả bềnh bồng trên xuồng chèo giữa ban mai trong lành. Gió sớm mang hương phù sa, hồn châu thổ, xôn xao nhộn nhịp chợ nổi Cái Răng. Điều thú vị của chợ nổi là tất cả mọi thỏa thuận mua bán đều diễn ra ngay trên mặt nước nhưng mặt hàng phong phú và không khí sầm uất không hề kém những khu chợ lớn trên cạn. Chừng 6h sáng, hàng trăm ghe thuyền lớn bé đã đậu san sát nhau. Dân buôn bán miền sông nước có hình thức PR rất độc đáo, họ cắm trước mui xuồng cây “ bẹo” những sản phẩm mang thương hiệu đồng bằng. Cứ nhìn vào cây bẹo mà chọn mua những thức mình cần. Khoảng 7 giờ sáng chợ nổi Cái Răng sôi động nhất, cả khu chợ như phình to ra cả lòng sông. Âm thanh cuộc sống nhiệt tình sôi nổi: tiếng rao lảnh lót của nàng thôn nữ, tiếng rao vỡ sóng gió của khách thương hồ, tiếng rao như ru của các mẹ, các chị…hòa lẫn vào tiếng máy nổ, tiếng chèo động nước, tiếng sóng xô mạn thuyền, tiếng cười nói, mặc cả của người mua lẫn người bán… Chợ nổi đầy sức sống, nhiệt tình, ồn ào, phóng khoáng tựa như tính cách của người vùng sông nước. Anh thanh niên lái xuồng đưa tôi len lỏi rất “ có nghề” vào những khe hở của thuyền buôn bán, xuồng áp xuồng, ghe áp ghe nhưng không thấy có cảnh chen lấn mà tất cả đều chan hòa, nhường nhịn nhau. Tôi bấm máy ảnh liên tục, thằng bé bán bánh bao toét miệng cười khoe răng sún gọi to: “ Cô nhà báo ơi, chụp con nhiều nhiều nghen, cho con lên báo nghen, con “ khuyến mại’ cho cô cái bánh bao”. Nhoẻn miệng cười bởi đề nghị dễ thương của thằng bé, tôi chụp rất nhiều hình, tự hứa sớm mai trở lại đưa cho nó mấy bôi hình đã rửa để làm kỉ niệm.
Chừng 9h chợ vãn, tôi xuôi trên bến Ninh Kiều bỗng nhớ đôi câu thơ của nhà thơ Huỳnh Kim viết về chợ nổi Cái Răng:
Chợ đã nổi từ nửa đêm về sáng
Ta vẫn chìm từ giữa bữa hoàng hôn.
Em treo bẹo Cái Răng Ba Láng
Ta thương hồ Vàm Xáng Cần Thơ…”
“ Ta vẫn chìm từ giữa bữa hoàng hôn” nghe nao lòng xao xác những heo may… Kẻ “ một chốn bốn quê” như tôi nhiều lần ngậm ngùi chẳng biết nơi đâu là chốn quê nhà, mỗi lần xách va ly chuẩn bị cho một hành trình mới cứ nao nức không biết nên gọi là đi hay về... Nơi chôn nhau cắt rốn của mỗi người chính là quê hương trong trí nhớ. “ Người ta có thể tách bước rời khỏi quê hương nhưng không thể tách rời con tim khỏi quê hương được” ( Kiên Giang)…Tôi đang ở giữa Tây Đô mà nhớ Tây Đô cũng có nghĩa là có một quê hương trong trí nhớ tôi dù tôi chẳng chôn nhau cắt rốn ở nơi này…Ghé miệt vườn Phụng Hiệp, qua Lộ Vòng Cung, tôi tránh xa cái mê mải phố thị, tránh hương người lẫn với mùi khói bụi trong thành phố. Bâng khuâng  lẫn mình trong màu xanh cây lá của ruộng vườn, một cảm giác yên bình ôm ấp lấy tôi. “ Sông Phụng Hiệp chảy ra bảy ngã”, vùng sông nước độc đáo không chỉ ở khu vực Đồng bằng sông Cửu Long mà còn là nét độc đáo của cả nước bởi nơi đây 7 nhánh sông hội tụ: Xẻo Môn, Xẻo Đông, Mang Cá, Bún Tàu, Lái Hiếu, Cái Côn và Kênh Sáng. Chợ nổi Ngã Bảy đầy đủ sản phẩm của “ miệt trên, miệt dưới”, xa xa vọng lại trong sương sớm tiếng ca thiết tha của cô thôn nữ “ Ghe chiếu Cà Mau cắm sào trên bờ kinh Ngã Bảy/ Sao cô gái năm xưa chẳng thấy ra chào…” mà nhớ đệ nhất danh ca Út Trà Ôn trong bài “ Tình anh bán chiếu” của soạn giả Viễn Châu nổi tiếng từ những năm 60 đến tận giờ…Cô thôn nữ vươn ngực đón nắng, tay đưa chèo nhịp nhàng trên sóng dập dềnh tạo nên nét thơ mộng trong cảnh sôi động, eo sèo chợ nổi. Trong bát ngát đồng bưng bóng cô hút xa dần, tiếng ca cũng hút xa dần còn tôi dõi mắt nhìn theo cô mãi…
Nghe kể  một ngàn năm trước sông Tiền cao hơn sông Hậu, đôi dòng gặp nhau cuối vàm Năng Gù rồi lại tách ra thành Hồng Ngự, Tân Hồng…Cần Thơ êm đềm nằm bên bờ Nam sông Hậu, phía bờ Bắc là tỉnh Vĩnh Long. Nối đôi bờ Nam – Bắc là những chuyến Phà. Bến phà này có  lịch sử lâu đời nhất Việt Nam ra đời vào khoảng năm 1915 khi thực dân Pháp bắt đầu cho xây dựng bến phà cùng với việc nâng cấp một số tuyến lộ đi Sóc Trăng, Minh Hải cũ…Phục vụ cho việc đẩy mạnh khai thác thuộc địa đặc biệt là các tỉnh miền Tây. Khi cây cầu dây văng lộng lẫy sáng rực thay thế những chuyến phà được khánh thành trong niềm vui òa vỡ của nhân dân hai bên bờ sông Hậu trong tôi lại có chút gì tiếc nuối, phân vân tự hỏi: “ Rồi những con phà cũ sẽ về đâu…?”. Mờ tối, tôi đứng bên này sông, nơi bến phà cũ chỉ còn là dấu tích nhìn  con thuyền cùng người lái đò chỉ trông thấy bóng mà không biết là nam hay nữ lẫn trong nhập nhoạng tối phủ đầy mặt sông… Phía xa xa cầu Cần Thơ lộng lẫy nhưng ánh sáng không hắt bóng đến tận bến phà chưa kịp cũ đã thành quá vãng.
Người ta bảo về Cần Thơ mà không nghe vọng cổ thì chưa biết Cần Thơ. Vọng cổ là một nét văn hóa đặc sắc của Tây Nam Bộ, xuất xứ từ tên “cầm, thi, giang” (đàn, thơ, sông). Anh chạy xe lôi thùng nhiệt tình hồ hởi khi tôi hỏi thăm đến quán đờn ca tài tử, anh giới thiệu quán 112 (đại lộ Trần Phú, trước đoàn nghệ thuật Quân khu 9) chủ quán từng là nghệ sĩ đoàn Quân khu 9., Sân khấu giản dị, bàn ghế đơn sơ, sự thân thiện làm ấm lòng du khách đường xa.Tiếng ghi-ta phím lõm, cùng đàn nguyệt, đàn bầu, đàn cò khi réo rắt, lúc khoan lơi nâng câu ca cổ tha thiết trải dài trên triền sông nước... Tôi trở về khách sạn khi trời đã chạm vào khuya.
Trằn trọc không ngủ được, lại cất bước ra bến Ninh Kiều. Trong nhộn nhịp người qua lại của một khu du lịch trung tâm thành phố vẫn còn bao phận người nhọc nhằn mưu sinh trên sóng nước Ninh Kiều. Tôi chú ý đến một bà lão ngồi khiêm tốn ở một góc công viên. Bà đã già lắm nhưng đôi tay vẫn thoăn thoắt khéo léo tết những con hạc làm bằng lá dừa. Lạ một điều, khách của bà lão rất nhiều nhưng không ồn ào, tất cả chăm chú nhìn theo đôi tay nhăn nheo trổ đồi mồi tết hạc. Tất cả đều say sưa ngắm nhìn rồi mua hết số hạc bà lão tết được. Bà lão vừa nhận tiền vừa cười, khuôn mặt nhầu nhĩ vết tháng năm sáng lên dưới ánh đèn hắt lên từ chiếc du thuyền sang trọng bởi nụ cười hiền lành của bà lão…
Bến Ninh Kiều gần như không ngủ, tôi hỏi một chị bán hột vịt lộn trên sông có bao nhiêu người trên bến sống trên sông nước, chị bảo: “ Hơn 40 người đó lận cô. Mà cực dữ lắm, chỉ đủ gạo ăn, có ngày không được lên bờ, mưa thì ngủ dưới dạ cầu…”. Chị ngậm ngùi đưa ống tay quyệt nước mắt chỉ vô mui xuồng: “ Cô coi… Mấy đứa nhỏ của tui không có đứa nào đi học. Đứa bán gương sen, sơ ri, thuốc lá; đứa bán vé số. Ba tụi nó chết từ cái hồi sập nhịp dẫn cầu Cần Thơ…”. Chị lặng đi rồi rất nhanh lại rổn rảng: “ Tụi tui sống cực vậy chớ thiệt dạ lắm cô ơi. Không ai lợi dụng khách phương xa chém giá đâu cô.”. Tôi mua cho chị chục hột vịt lộn rồi bước ra về trong cái ngậm ngùi lan sang từ chị. Xóm chài bên kia bờ phù sa yên ắng… Bến Ninh Kiều bên này não nuột những câu chuyện kể của những phận nghèo nhưng chân thật như moi hết ruột gan của mình ra mà sống. Từng dòng người vẫn qua lại với là lượt áo quần, với mong muốn tìm một nơi nghỉ ngơi thư giãn vẫn thong thả tản bộ trong đêm miền Tây trong lành sâu thẳm.
Tôi chìm trong giấc ngủ, giấc mơ tôi có nụ cười thằng bé bán bánh bao, giọt nước mắt của chị bán hột vịt lộn và lấp lánh ánh đèn trên cầu Cần Thơ…
Khi tôi thức giấc, những sợi nắng đầu ngày vừa chạm vào khung cửa. Dòng sông trước mặt xôn xao nhộn nhịp thuyền bè qua lại. Sáng Cần Thơ mát dịu, nhận lời bạn uống café công viên. Quán đơn sơ, vài chiếc bàn kê dưới tàn cây trứng cá nhưng rất đông khách. Bạn bảo “Gu cafe” của dân Cần Thơ là cà phê phải sủi bọt lên miệng tách. Cô chủ quán giọng ngọt như mía Phụng Hiệp nâng bình café thật cao rồi rót xuống ly, dòng café đen sánh chảy mạnh xuống đáy tách xô vào nhau tạo nên những lớp bọt trên bề mặt ly, đó là với cafe đen. Còn café đá, phải quấy mạnh sôi bọt sau đó mới cho đá vào…Trong một góc yên tĩnh, tôi và bạn ngắm phố phường, chợt nhận ra cậu bé bán bánh bao hôm trước bên chợ nổi Cái Răng, tôi với gọi theo. Chú bé cũng nhận ra tôi, nhận tấm hình, chú cười toét miệng, cám ơn rối rít. Chú chạy đi một đoạn rồi quay trở lại tặng tôi chiếc bánh bao kèm theo lời đề nghị: “ Cô cho con lên báo nghen, con khoái lên báo lắm”. Chú bé chạy đi rồi còn bỏ lại nụ cười giòn vỡ hồn nhiên…
Cần Thơ  đang mùa mênh mang sóng nước, rạng ngời trong ánh ban mai. Dù vẫn còn vất vả, lo toan trong cuộc sống thường ngày thì tiếng ca vẫn vút lên từ bến Ninh Kiều, dòng Cầm Thi vẫn mang nặng phù sa đắp bồi hai bên bờ bồi lỡ.