( Tặng Thuỵ )
Đôi chân chưa từng chạm đất để đứng lên
Chúng nằm sát bên nhau
Lặng im không biết mỏi
Những vòng xoay của mặt trời vẫn đưa anh tới
Chân trời xanh
Biển rộng
Núi ngút ngàn
Dù bàn chân anh chưa từng một lần chạm đất bước thẳng hàng.
***
“ Người ta sinh ra để lại dấu chân mình trên mặt đất”
Còn anh để nhịp tim mình
Khao khát
Hy vọng
Và bay lên bằng những vòng xoay
Trên con đường anh đã đến hôm nay
Anh đi bằng một đôi chân khác
Từ vòm ngực, hơi thở, đôi tay…
Cỗ xe của thần mặt trời Helios
Khúc hát dòng sông, cánh đồng..
Cho anh bước đi
Trên đôi chân
Không chạm đất bao giờ.
Cà Mau ngày 28 tháng 2 năm 2012
Nguyễn Thị Việt Hà.
Ảnh Việt Hà
Ta về trồng cỏ dại đầy sân...
Thứ Ba, 28 tháng 2, 2012
Chủ Nhật, 26 tháng 2, 2012
ĐƯỜNG CHÂN TRỜI
Truyện rất ngắn
P/s: Tác phẩm in trên báo Thời Nay số 207.
Mười hai tuổi lần đầu thằng bé được ba má quyết định cho đến trường. Đôi bàn tay của người đàn ông da màu đất nhiễm mặn, hơi thở mùi của biển, mùi của muối, mùi của sóng gió và cả mùi của những giọt mồ hôi đọng trên trán từ từ chảy xuống khóe mắt, vụng về lấy miếng giấy kiếng bao sổ cho con. Người đàn bà tuổi chưa nhiều, da đã xếp nếp nhăn hí húi đưa kim khâu mấy chỗ rách của chiếc cặp da đen hồi chiều xin được ở đằng chợ. Thằng bé ròm, tóc mới hớt ngó mặt thấy ngộ ngộ đang suy nghĩ: nó có học được chữ hay không? Lớn vầy học lớp Một người ta cười thúi mũi. Ba mẹ nó chưa bao giờ nghĩ việc chữ nghĩa cần thiết với gia đình họ. Mấy đứa con của họ không đứa nào đi học vẫn lớn, dựng vợ, gả chồng, ra khơi, lăn lộn trên bến cá, thả chà, thả lú trên sông, sống với cái nhà lá, mớ áo rách, cái bếp dột vẫn đẻ tì tì lứa này đến đứa khác. Xóm này có vài chục nóc ai cũng y rang.
Hồi sớm có cô giáo trẻ ngồi lụm cá trên bến tiếp người này người kia, ai cũng dòm. Xế, xả hơi, cô nói về cái trường, con nít được đi học, mơi mốt lớn mần công chuyện trong nhà tường chớ không còn lăn lóc trên bến, ngoài bãi bữa đói bữa no. Nguyên xóm này nhà lá, không có nửa cục đất chọi chim cắm cái sào đành kéo nhau dựng tạm trên đất nhà nước ven đê rừng phòng hộ theo ghe bạn đánh cá mướn hoặc mò cua, đục hào ở cửa sông. Vài chục đứa con nít xúm quanh bãi rác cuối thẻo đất xe môi trường ngày nào cũng đổ, moi móc phế liệu đem bán. Chúng quen với ruồi nhặng chớ lạ mặt chữ. Những đứa trẻ sạch sẽ khác ngoài thị trấn cũng không bao giờ được ba má chúng cho bén mảng tới đây. Bến cá, đông lần, đông lần… xúm quanh cô giáo nghe cô giáo nói. Nghe người ta kể cô là trẻ mồ côi, hồi nhỏ cũng đi làm mướn, cô lội bộ hàng chục cây số tới trường. Cô thành cô giáo, dạy ở thành phố nhưng thành phố nhiều nhà lầu che mất đường chân trời. Cô đi tìm đường chân trời và thấy nó hiện lên rất rõ ở phía rừng, phía biển, về phía cái xóm nghèo xơ này. Cô giáo nói bà con cho con nít đến trường đi, ở đó thầy cô giáo dạy nhiều thứ lắm, những thứ có thể giúp một đứa trẻ trên bãi rác thành công nhân, giáo viên, kĩ sư, bác sĩ… Những đứa trẻ leo từ bãi rác xuống dòm lom lom tà áo dài cô phủ xuống bến cá hôi rình, đứa con gái tóc xém nắng nhót ruột vắt áo vào lòng cô. Mấy ngọn tóc mai ướt mồ hôi bết trán, cô giáo trẻ sao mà đẹp.
Cô giáo mỉm cười, ôm hết chồng sổ này đến chồng sổ khác phát cho từng đứa con nít. Những trang sổ trắng thơm tho nằm gọn hơ trên đôi tay gày như nhánh đước, đen như than tràm, chỉ biết mò rác, móc ba khía, bắt lươn của thằng bé gày còm, của con bé tóc dài vàng xù lên không cột. Cô nói, ngày mai cô sẽ đợi các em ở lớp, cái dãy nhà ba căn chính quyền mới cho dựng gần xóm Đảo. Ngày mai cô sẽ may áo mới cho từng em…
Cả bãi cá xì xào rồi xôn xao…xôn xao. Sớm mai nhứt quyết nghỉ mần một bữa đưa con đến trường.
Sớm, những thằng bé ròm nắm tay những con bé tóc khét nắng đã được cột gọn gàng đi học. Người lớn đi phía sau…Ngộ thiệt, mới tháng 12 bông mai thấp thoáng nở. Chắc năm nay xuân đến sớm mừng lớp học đặc biệt này.
Thằng bé mười hai tuổi lớn nhất bọn chỉ tay về phía trước quả quyết là nó đã nhìn thấy đường chân trời cô giáo nói, một vệt sáng vòng cung rực rỡ hơn cả cầu vồng phía sau trường mới mở chớ không phải ngoài bãi rác như mọi lần hay xa xôi mờ mờ một vệt trên biển như cái lần nó nhìn thấy khi theo ba đi biển đánh cá.
Nguyễn Thị Việt Hà P/s: Tác phẩm in trên báo Thời Nay số 207.
Thứ Ba, 21 tháng 2, 2012
VỀ LẠI GÒ CÔNG
VỀ LẠI GÒ CÔNG - Nguyễn Thị Việt Hà
Bỏ lại sau lưng những ồn ã của phố thị, một ngày cuối năm, tôi quyết định xuôi đò về Gò Công thăm cậu một chuyến.
Một máy ảnh, một điện thoại, một cuốn sổ cùng cây viết để ghi chép, vài vật dụng cá nhân… đó là tất cả hành trang của tôi mang theo. Ca nô rời bến Phú Tân lướt nhanh qua sông lớn, sông nhỏ, qua cánh rừng đước, rừng tràm xanh ngút ngàn khoảng 2,5 giờ từ Cái Đôi Vàm đến Gò Công ( thuộc xã Nguyễn Việt Khái, Huyện Phú Tân ) đi tiếp vào kênh Thí Điểm, nhà cậu tôi ở đó.
Một máy ảnh, một điện thoại, một cuốn sổ cùng cây viết để ghi chép, vài vật dụng cá nhân… đó là tất cả hành trang của tôi mang theo. Ca nô rời bến Phú Tân lướt nhanh qua sông lớn, sông nhỏ, qua cánh rừng đước, rừng tràm xanh ngút ngàn khoảng 2,5 giờ từ Cái Đôi Vàm đến Gò Công ( thuộc xã Nguyễn Việt Khái, Huyện Phú Tân ) đi tiếp vào kênh Thí Điểm, nhà cậu tôi ở đó.
Cậu tôi, làn da cháy nắng, nhoẻn miệng cười đón đứa cháu ở Cà Mau ngót 30 năm mà chân vẫn bước chưa quen cây cầu khỉ chênh vênh.Trước mắt tôi, cửa biển Gò Công liền rừng là biển,một màu xanh thăm thẳm tiếp nối tưởng chừng như vô tận. Tôi đón gió từ mặt sông, gió thổi từ muôn phía, rừng tràm hòa điệu thổi sáo vi vu, cá từng đàn đùa giỡn với từng lượn sóng nhấp nhô. Tôi đón nắng rực rỡ và bầu trời trong xanh quyến rũ mênh mông. Tôi say sưa trong vũ điệu của sự sống bất tận và mãnh liệt của đất trời và cảm thấy sự bon chen, tất bật, bận rộn của cuộc sống dường như chẳng chạm đến nơi này.Múc gáo nước mưa uống cạn, nghe vị ngọt đọng lại và mùi hăng hắc của mái lá…. Mà cảm nhận ngay sự bình yên trong từng giọt nước ngọt giữa vùng đất cuối trời được khai phá vào cuối thế kỉ XVII đầu thế kỉ XVIII. Vùng đất quần tụ cả 3 dân tộc : Kinh, Hoa, Khmer chân dính phèn, da cháy nắng từng ngày khai hoang lập địa để tạo nên một Cà Mau tươi đẹp hôm nay.Tôi đi miên man trong ánh bình minh rực rỡ, trong sự hòa quyện kỳ diệu của thiên nhiên. Rừng đước như thành lũy bao bọc hơn 400 hộ dân trước cửa biển Gò Công. Kỳ diệu và lạ lùng sức sống rừng đước, từng chùm rễ từ giữa thân thẳng tắp và mạnh mẽ cắm sâu xuống lòng đất để dựng thân cây đứng vững vàng. Quả đước cũng thẳng ngay như mũi tên theo gió rung cắm xuống bùn đất khi xa khi gần rồi cây đước lại mọc lên. Cây này tiếp nối cây khác, hàng này tiếp nối hàng khác, tất cả quấn quýt bám chặt vào nhau tạo thành rừng bạt ngàn. Ôi xứ sở của những con người sống có khí phách, hiên ngang, hào sảng, bản lĩnh đội trời đạp đất thời mở cõi như hiển hiện qua sự sống mãnh liệt của rừng đước, rừng tràm.Tôi bắt gặp trên nền xanh ấy là bóng áo hồng của cô thôn nữ đang chèo xuồng trên sông, tiếng hò của cô theo sóng nước dập dìu hòa điệu : “Hò... ơ... ơ... ớ... ớ... Anh ơi, anh về tìm vảy con cá trê vàng...Anh tìm gan con tép bạc... ơ... ơ... thì em với chàng gặp nhau... ơ... ơ...”. Giữa biển rừng mênh mang tiếng hò khoan cất lên tha thiết làm ấm cả buổi bình minh. Xa xa từng đoàn tàu vươn mình, ra khơi hứa hẹn thuyền về đầy khoang cá. Bình yên thấm đẫm cả một vùng cửa biển Gò Công.Cậu tôi mỉm cười nhìn đứa cháu gái bấm máy ảnh chụp lại những khoảnh khắc rung động của trời đất Gò Công, cậu bảo : “Con ra rẫy hái rau về chấm cá kho, bữa nay cậu đãi con canh chua hén!”.Chân trần bước trên đất mà thương quá người dân xứ biển bồi từng gánh đất, chắt chiu nước ngọt trồng rau trên đất nhiễm mặn. Rẫy của cậu tôi cơ man là rau, dưới tán táo, ổi, chuối, dừa, chùm ruột là rau thơm, rau cải, rau muống nhưng thích nhất vẫn là rau rừng mọc tự nhiên: rau tàu bay, cải trời, ngò, lá lồi, lá cách, càng cua… Một chút dạo chơi trong rẫy tôi đã “thu hoạch” được không chỉ là một rổ đầy rau các loại cùng vài trái táo, trái ổi cuối mùa vàng rộm ngọt lịm mà còn được nghe dàn đồng ca của chim chóc với gió thổi vi vu từ các tán rừng đước trước mặt.Nắng đã lên đến ngang đầu, vào đến nhà cậu đã dọn sẵn mâm cơm có canh chua cá ngát nấu bông so đũa thơm lựng cùng dĩa muối cục dầm ớt, tô ba khía muối trộn giấm đường tỏi ớt cùng đĩa cá nâu kho me có thêm rổ rau rừng vừa hái đã được rửa kỹ. Nhận bát cơm từ cậu, tôi ăn ngon lành đến chén thứ 3 vẫn còn muốn ăn tiếp. Trong cuộc sống quá ư bề bộn với bao nhiêu những lo toan tính toán có được giây phút bình yên thanh thản với thiên nhiên như thế này thật quý giá biết bao. Nét hồn hậu dễ thương, dễ mến của người dân xứ biển cùng hương vị đồng quê làm tan đi cái nắng gay gắt ban trưa làm dịu đi những căng thẳng bởi nhịp sống quá ư hối hả mà tôi đã sống.Nhà cậu tôi được dựng ở mom sông, nhà sàn lợp lá dừa nước mát rượi, trước mặt là biển, sau lưng là rừng. Cậu chầm chậm nói : “Sống giữa rừng vàng, biển bạc mà ngư dân ở đây vẫn đói đó con. Ngư dân ở đây nhiều người không có cục đất chọi chim nói chi đến mua sắm phương tiện khai thác biển, người ta đi ghe bạn hoặc dùng phương tiện thô sơ đánh bắt gần bờ. Cuộc sống bức bách, đói cơm đã đành còn đói cái chữ”. Sau vẻ bình yên ấy còn bao nhiêu khó nhọc, bao nhiêu năm bám biển, bám rừng nhưng cái nghèo vẫn bám riết, cảnh ăn trước trả sau vẫn còn làm đau lòng bao nhiêu ngư dân ở đây. Không đất canh tác, đông con, thiếu vốn là hoàn cảnh chung của hơn 80% ngư dân ở đây, họ sống chủ yếu bằng việc khai thác bãi bồi, biển cạn, nhà ở là những căn chòi tạm bợ cất nơi đầu ghềnh, cuối bãi. Nghèo là thế, nhọc nhằn là thế nhưng dân xóm biển không ai nỡ xa quê, thà chịu cái cảnh “ rau cháo có nhau” mà nên nghĩa thành tình. Có lẽ hồn quê hương đã ướp vào da thịt để rồi hun đúc thành nếp sống chân chất, lành hiền, thẳng ngay, chịu thương, chịu khó sẵn sàng đùm bọc nhau dìu nhau qua bao nhiêu cơ cực.Cậu gói cho tôi ít tôm khô, hũ ba khía muối cùng bọc mực tươi cùng vài mươi con ghẹ gạch son biểu chuẩn bị đón đò về lại Cái Đôi Vàm. Rưng rưng ôm lấy cậu, nghe mùi khét nắng từ tóc cậu phải ra, đôi tay rắn chắc của cậu cầm lấy vai tôi mà lắc: “ Về, cố gắng công tác. Rảnh xuống cậu ăn cơm rau rừng, ba khía muối nghen con”.Đò lướt qua rừng đước, những thân đước vững chãi, cắm chùm rễ sâu dưới bùn đất tạo thành lá chắn cho vùng đất cuối trời. Cà Mau của tôi trăm thương ngàn mến, nơi rừng sinh, đất đẻ mà thành, nơi những con người có giọng nói mặn mòi biển khơi và tiếng cười hiền lành như sóng va mạn thuyền. Chỉ là một chuyến đi về cửa biển Gò Công mà ghi lại trong tôi những khoảnh khắc kỳ lạ của cuộc đời. Đó là niềm tự hào, ngưỡng mộ một vùng đất được sinh ra từ phù sa; là sự say mê, hòa quyện với vẻ đẹp diệu kì của thiên nhiên; là thương, là nhớ ân tình máu mủ ruột rà; là khát khao biển rừng có thể nuôi ngư dân no đủ…P.s: Bài đã sử dụng trên Tuần Báo Văn Nghệ, Tạp chí Thế Giới Mới...
Thứ Bảy, 18 tháng 2, 2012
VỀ ĐẤT MŨI CÀ MAU
VỀ ĐẤT MŨI CÀ MAU
18/02/2012 19:31 |
Cà Mau mùa này mưa nắng có nhiều không?
Biển tha thiết, hồn quê mằn mặn
Những dòng sông mêng mông thăm thẳm
Đất đẻ, rừng sinh hùng vĩ vô cùng
Trời xanh và nước thật xanh
Nơi cánh sóng vẫn bình yên đến lạ
Mẹ hát con nghe bài ca biển cả
Giấc ngủ dập dìu con sóng nhỏ lao xao
Một lần về đất Mũi Cà Mau
Hướng tầm mắt xa ngút ngàn tầm mắt
Ôi yêu thương , ôi thiêng liêng đất nước
Cầm nắm đất tận cùng, sóng mũi cay cay
Tổ Quốc là đây sự sống cũng là đây !
Giản dị thế mà thân thương đến thế
Đất thì thầm những câu chuyện kể
Về những con người vất vả cần lao
Tôi kể em nghe về Đất Mũi Cà Mau
Cõi lập địa mịt mùng xa thẳm
Một dải vô cùng xanh mầu xanh vạn dặm
Bình minh lên sáng rực cuối trời
Cà Mau bây giờ tươi đẹp ở muôn nơi
Người thiếu nữ dịu dàng tà áo tím
Ánh mắt luyến lưu lòng ơi sao bịn rịn
Vùng đất cuối trời trăm mến ngàn thương
Nguyễn Thị Việt Hà
P/s: Tác phẩm đã sử dụng trên Cà Mau thứ 7 ra ngày 18 tháng 2 năm 2012
Biển tha thiết, hồn quê mằn mặn
Những dòng sông mêng mông thăm thẳm
Đất đẻ, rừng sinh hùng vĩ vô cùng
Trời xanh và nước thật xanh
Nơi cánh sóng vẫn bình yên đến lạ
Mẹ hát con nghe bài ca biển cả
Giấc ngủ dập dìu con sóng nhỏ lao xao
Một lần về đất Mũi Cà Mau
Hướng tầm mắt xa ngút ngàn tầm mắt
Ôi yêu thương , ôi thiêng liêng đất nước
Cầm nắm đất tận cùng, sóng mũi cay cay
Tổ Quốc là đây sự sống cũng là đây !
Giản dị thế mà thân thương đến thế
Đất thì thầm những câu chuyện kể
Về những con người vất vả cần lao
Tôi kể em nghe về Đất Mũi Cà Mau
Cõi lập địa mịt mùng xa thẳm
Một dải vô cùng xanh mầu xanh vạn dặm
Bình minh lên sáng rực cuối trời
Cà Mau bây giờ tươi đẹp ở muôn nơi
Người thiếu nữ dịu dàng tà áo tím
Ánh mắt luyến lưu lòng ơi sao bịn rịn
Vùng đất cuối trời trăm mến ngàn thương
Nguyễn Thị Việt Hà
P/s: Tác phẩm đã sử dụng trên Cà Mau thứ 7 ra ngày 18 tháng 2 năm 2012
Thứ Năm, 16 tháng 2, 2012
TRÁI NHÀ QUÊ
TRÁI NHÀ QUÊ
17/02/2012 11:16 | 7 lượt xem
Đông Nhi chép miệng: “Khổ thân, tên gì không tên lại tên bần nên suốt kiếp không ngóc đầu lên nổi!”. Nhìn em nâng niu bông bần trắng mà nghe thương cây bần quanh năm dầm mình dọc những bờ sông nước mặn vẫn trổ ra những trái non tơ đung đưa trước gió, món trái cây của lũ con nít nhà quê như chúng tôi.
Xứ Cái Nước Biển đất khô đét, sông đục ngầu, cây cối chi cũng không tốt nổi, chỉ có đám rau muống dại mặc sức lan tràn. Thế mà không hiểu sao bần vẫn mọc xanh, bất chấp nước mặn, đất nhiễm phèn ra sao. Lũ trẻ chúng tôi mò sò huyết dưới lòng sông nghe thoang thoảng hương bần chín là sà ngay mé sông bứt trái bần dĩa, bần ổi, để nguyên bộ đồ ướt trên người chỉ rửa qua đôi tay, dầm trái ớt đỏ với muối cục, mỗi đứa mỗi trái ăn ngon lành. Bữa nào “thịnh soạn” hơn thì chuẩn bị mắm cá chốt, xé ba khía muối trộn tỏi ớt, hái bần về cứ thế mà chấm, cầm nguyên trái mà cắn thì ngon nhứt hạng. Khó quên nhất là nồi canh chua trái bần, cá rô, bông so đũa mẹ nấu hoặc đơn giản hơn chỉ cần nắm đọt lang luộc chấm nước mắm dầm trái bần chín ăn cũng rất tốn cơm. Con nít nhà quê nghèo y như cái tên “ Bần” vậy mà đứa nào cũng khoẻ mạnh, dạn sương, dạn gió.
Mùa mưa hoa bần nở, nhuỵ rụng trắng mặt sông, chim dòng dọc làm tổ rất duyên dáng trong những bụi bần. Khi những lượn sóng bạc tung mình mùa gió chướng, mùa chim về tổ, dừa nước dày cơm là mùa bần chín. Bần chín có vị chua chua ngọt ngọt ăn rất ngon nhưng vẻ non mơn mởn của bần xanh lại hấp dẫn con mắt chúng tôi vô cùng. Buổi trưa nghe văng vẳng tiếng ru con tha thiết của người mẹ trẻ “Đói lòng ăn trái bần xanh/Dù chua dù chát cũng đành vì ai ...” , đang cầm trái bần trên tay mà thương bần vô kể. Nhìn xung quanh, đứa nào áo quần cũng vá hai ba lổ, ba mẹ mặc bộ quần áo rách như chiếc lá mục tự hỏi không biết bao giờ quê mình mới hết “ bần” đây!
Nhiều năm trôi qua, quê tôi đã hết bần hàn, nhà lá được thay bằng nhà xây thì cây bần vẫn ở trước sông, mùa trái chín rụng cả xuống dòng nước lững lờ trôi, lũ trẻ vẫn háo hức chờ đợi bông hoa trắng pha sắc tím tinh khôi kết trái xanh non đợi mùa gió chướng về để chín. Tôi còn nghe nói trái bần đã đi vào siêu thị, chế biến thành bột bần nấu lẩu trong các nhà hàng và trên quầy bánh mứt đã có món mứt bần. Chợt vui khi thứ trái nhà quê đã thành món đặc sản nơi thành phố…
Nguyễn Thị Việt Hà
P/s: Bài đã sử dụng trên báo Áo Trắng số 3 ra ngày 15 tháng 2 năm 2012
TẬU TRÂU TẬU LẪN NGHÉ
“ TẬU TRÂU TẬU LẪN NGHÉ…”
Xã hội hiện nay đã thay đổi, giới trẻ không còn quá phụ thuộc vào dư luận, chống lại mọi khuôn thước nếu quyền cá nhân không được tôn trọng. Tuy nhiên trên thực tế vẫn còn rất nhiều mâu thuẫn trong vấn đề hôn nhân và việc sinh con đẻ cái.
Vô sinh - chuyện không nhỏ trong các gia đình, trở thành một vấn đề bất tự nhiên trong xã hội, dẫn đến những hệ luỵ không lường về hạnh phúc gia đình, cân bằng giới tính…Nhiều gia đình đang chung sống hạnh phúc nhưng phát hiện ra một trong hai người không thể có con thì rất có thể dẫn đến ly hôn. Chính từ điều đó có rất nhiều bạn chọn cách “ tậu trâu tậu lẫn nghé” để tránh rủi ro chuyện “ cây không quả”.
Các bậc cha mẹ ủng hộ?
Văn Thuần ( Hà Tây) tâm sự: “ Chúng em quyết định sống với nhau như vợ chồng khi nào có bầu thì cưới luôn. Khi bạn gái em có bầu, về báo cáo với hai bên gia đình, các cụ vui mừng ra mặt vì sớm có cháu bế không lo vợ chồng mải mê công việc lười đẻ con”. Việc các bậc cha mẹ ủng hộ con trai mình sống với bạn gái đến khi có bầu mới cưới không phải là không có lý do. Điều đó xuất phát từ nỗi lo con dâu cưới về không thể sinh con trong khi trên thực tế tỉ lệ phá thai, kiến thức về sức khoẻ giới tính còn hạn chế và hiện tượng vô sinh luôn là nỗi ám ảnh cho các bậc làm cha làm mẹ. Việc “ thử trước” không đồng nghĩa với việc ủng hộ cho quan hệ trước hôn nhân một cách tuỳ tiện, dễ dãi mà đang là lựa chọn nghiêm túc của các cặp đôi có ý định gắn bó lâu dài. Có con trước sẽ tránh khỏi nỗi lo vô sinh, tránh đi những dằn vặt về tinh thần thể xác cho cả hai mà người phụ nữ lại chính là người thường nhận thiệt thòi trong cuộc sống.
Chị Thanh Mai ( Hà Nội) kể rằng: “ Bố mẹ mình cũng không cấm cản gì việc “ ăn cơm trước kẻng” đâu. Mẹ khuyên cũng nên xem “ súng ống” chồng tương lai có “ điếc” không, để khỏi khó xử về sau. Hôm mình báo có thai ba tháng, hai bên gia đình rất phấn khởi, sau đó thì tổ chức cưới hỏi ngay”. Cuối năm 2010, ngành y tế đã cho biết tỷ lệ vô sinh ở Việt Nam là 8% . Nguyên nhân vô sinh đến từ vợ là 40%, từ chồng là 40%, từ cả hai vợ chồng là 10% và vô sinh không rõ nguyên nhân là 10%. Thế nên nhiều bạn trẻ và các bậc cha mẹ băn khoăn chuyện có thai trước khi cưới cũng là dễ hiểu khi thực tế đã có nhiều gia đình khốn đốn vì chạy chữa vô sinh. Tại các bệnh viện phụ sản, có những trường hợp đã tốn đến hàng trăm triệu đồng để có được một đứa con, nhưng không phải lúc nào cũng thành công.
….Và phản đối…
Bác Liên ( Đà Nẵng) than thở: “ Tôi chỉ có một thằng con trai thôi. Ăn ở ra sao mà nó lại dắt về đây một cô gái có chửa sắp đẻ bảo là vợ nó. Nếu là con nó thật thì tôi chẳng nói làm gì, chỉ lo nó lại đi “ đổ vỏ” cho thằng khác thì khổ.”. Tự nhiên có một cô dâu và một đứa cháu trong khi chưa chuẩn bị tâm lý cho cha mẹ thì trường hợp sốc, buồn, lo như bác Liên cũng có thể thông cảm được. Nhưng tệ hơn đó chính là việc cô dâu có bầu trước sẽ bị cha mẹ, họ hàng rẻ rung, nghi ngờ rất khổ tâm. Điều đáng lo hơn việc “ thử trước” này người phụ nữ sẽ mất mát nhiều nếu người đàn ông thay đổi không chịu cưới. Người phụ nữ sẽ phải đối mặt với việc nuôi con một mình hoặc tự đến bệnh viện nạo hút hết sức nguy hiểm vì sẽ là một trong những nguyên nhân dẫn đến vô sinh sau này.
“ Từ nhỏ mình đã được giáo dục là con gái phải biết giữ gìn trinh tiết cho chồng vào đêm tân hôn. Mình và chồng sắp cưới cũng tuyệt đối nghiêm túc trong chuyện quan hệ nam nữ và quyết định sẽ để dành điều tuyệt vời đó cho ngày cưới. Khi mẹ anh ấy đề nghị “ có con rồi hãy cưới” thì chính anh ấy chủ động giải thích cho mẹ hiểu quan điểm sống của hai đứa. Để mẹ yên tâm, chúng mình đi khám sức khỏe sinh sản tiền hôn nhân để đảm bảo hai đứa hoàn toàn có thể sinh con.” – Hoài Hương ( Quy Nhơn) chia sẻ.
Suy ngẫm.
Hạnh phúc là điều bất cứ gia đình nào cũng mong ước và hướng đến. Bất cứ quyết định nào cũng có tính hai mặt. Nếu những cặp đôi yêu nhau quyết định thử để có con trước khi cưới sẽ có hai khả năng, một là may mắn có con, hai là không có. Có con hoặc không có con họ cũng phải đối mặt với những tác động từ phía những người xung quanh, đặc biệt là từ bố mẹ hoặc ủng hộ hoặc phản đối. Thiết nghĩ không nhất thiết phải thử có con mà nên trước khi cưới cả hai cùng khám sức khoẻ sinh sản rồi mới quyết định sống với nhau cả đời hay không? Như vậy sẽ tích cực hơn là dùng phép thử để quyết định sẽ lấy hay bỏ nhau.
Nguyễn Thị Việt Hà
P/s: Bài đã sử dụng trong chuyên mục PNVN Cuối Tuần số 7/12 ra ngày 15/2/2012
Thứ Tư, 15 tháng 2, 2012
Chiếc áo tết
Chiếc áo tết
15/02/2012 17:57 | 0 lượt xem
Mới đầu tháng 12 đã thấy trẻ con xôn xao khoe áo tết. Những tấm áo thơm tho, màu sắc tươi non, đứa này giành đứa kia mình đẹp nhứt. Con bé lượm ve chai đứng xớ rớ quảy cái bao lớn gấp hai thân ngó vô nghe lỏm. Chiếc váy hồng của con nhỏ tên Yến kia thiệt đẹp. Mà Yến đâu chỉ có chiếc váy hồng, ngày nào nó cũng thấy cô bé chạng tuổi nó mặc những chiếc váy khác nhau, chiếc nào cũng dễ thương. Ngôi nhà của Yến có hàng rào trắng, hành lang treo mấy giò phong lan. Yến chơi với những đứa trẻ sạch sẽ, biết múa hát, đọc thơ. Buổi sáng Yến đi học, buổi chiều nó thấy Yến chơi trong sân với bạn. Ngày nào con bé lượm ve chai cũng đi qua ngôi nhà của Yến một lần, không phải đường về nhà nó ngang qua nhà Yến mà nó muốn đi ngang đó, kiếm cớ bới móc mấy cái cần xé coi có mủ, có bọc hông nhưng đôi mắt nó thì hướng đến đám con nít chơi ở trong sân nhà Yến. Nó đi qua đi lại miết riết ai cũng quen mặt.
Nó sinh ra trên bãi rác, sống nhờ rác, suốt ngày tiếp xúc với rác. Nó không biết đến những bộ váy đẹp, nó chỉ biết những bộ quần áo màu rác, mùi rác, bữa cơm khi đói, khi no. Nó chỉ có má, ba nó là ai không biết, đó là điều nó không được phép hỏi má. Hai ngày má cho ăn cá một bữa. Bữa nào không có cá, nóăn cơm với nước tương và tưởng tượng như đang ăn với những món ăn mà nóthích. Nó không mong gì chỉ mong tết này có chiếc áo mới. Má nó la: “ Sàm vừa thôi nghen, lượm bọc không đủ gạo ăn mua áo mới chi hao tiền”.
Ba má Yến về, Yến ùa ra mở cánh cổng màu trắng. Má Yến đưa chiếc váy màu xanh điểm xuyến những bông mai vàng cho con thử, trong bọc hình như còn mấy chiếc nữa. Mấy bạn nhỏ loi nhoi nói rộ: “ Lát, tui kêu ba má tui mua đồ đẹp hơn bạn nè”. Má Yến giảng hòa: “ Tất cả đều đẹp”. Đám con nít hài lòng cười vang. Chợt Yến chỉ tay ra con bé lượm bọc: “ Má ơi, bạn kia không đẹp. Ngày nào cũng có cái áo đó hà…”. Thấy có người chú ý đến mình, con nhỏ co giờ phóng chạy. Mấy lần nó bị người ta đánh dập chân vì tưởng nó ngó vô kiếm đường ăn cắp. Má Yến gọi lớn: “ Đừng chạy con, vô đây cô biểu”. Nó dừng lại nhưng không dám bước vô, má Yến phải ním tay nó dắt vô. Má hỏi Yến: “ Bạn không đẹp nhưng con có nhiều áo đẹp con phải làm sao?”. Yến lật qua lật lại mấy chiếc váy má mới mua tần ngần không nói gì. Ba nói Yến: “ Con thấy áo bạn rách hết hôn? Bạn sẽ đẹp hơn nếu mặc một chiếc áo mới…”. Yến chớp mắt, mỉm cười chọn chiếc váy màu hồng phấn đưa cho bạn… Nó sững sờ… Yến cười: “ Bạn thử đi”… Nó rụt rè: “ Sợ dơ, không có tiền thền”. Má Yến dịu dàng: “ Không sao đâu con…”. Ôi, chưa bao giờ nó có chiếc váy đẹp đến thế… Cả đám con nít nãy giờ im lặng giờ loi nhoi vỗ tay hét lên: “ Ai cũng đẹp hết chơn”… Yến, dáng vẻ như người lớn, đặt tay lên vai bạn: “ Tui tặng bạn đó!”. Má ôm Yến: “ Con gái má đẹp nhứt”. Tiếng reo hò vang lên, hòa vào tiếng nó: “ Yến đẹp nhứt”.
Nguyễn Thị Việt Hà
P/s: Bài đã sử dụng trên báo Cà Mau xuân 2012
Thứ Ba, 14 tháng 2, 2012
Trái nhà quê
http://www.baocamau.com.vn/newsdetails.aspx?newsid=20016
| Cập nhật ngày: 14/02/2012 09:53:49 |
| Đông Nhi chép miệng: “Khổ thân, tên gì không tên lại tên bần nên suốt kiếp không ngóc đầu lên nổi!”. Nhìn em nâng niu bông bần trắng mà nghe thương cây bần quanh năm dầm mình dọc những bờ sông nước mặn trổ ra những trái non tơ đung đưa trước gió, món trái cây của lũ con nít nhà quê như chúng tôi. Xứ biển đất khô đét, sông đục ngầu, cây cối chi cũng không tốt nổi, chỉ có đám rau muống dại mặc sức lan tràn. Thế mà không hiểu sao bần vẫn mọc xanh, bất chấp nước mặn, đất nhiễm phèn. Lũ trẻ chúng tôi mò sò huyết dưới lòng sông nghe thoang thoảng hương bần chín là sà ngay mé sông bứt trái bần dĩa, bần ổi. Rồi để nguyên bộ đồ ướt trên người chỉ rửa qua đôi tay, dầm trái ớt đỏ với muối cục, mỗi đứa mỗi trái ăn ngon lành. Bữa nào “thịnh soạn” hơn thì chuẩn bị mắm cá chốt, xé ba khía muối trộn tỏi ớt, hái bần về cứ thế mà chấm, cầm nguyên trái mà cắn thì ngon nhứt hạng. Khó quên nhất là nồi canh chua trái bần, cá rô, bông so đũa mẹ nấu hoặc đơn giản hơn chỉ cần nắm đọt lang luộc chấm nước mắm dầm trái bần chín ăn cũng rất tốn cơm. Con nít nhà quê nghèo y như cái tên “Bần”, vậy mà đứa nào cũng khỏe mạnh, dạn sương, dạn gió. Mùa mưa hoa bần nở, nhuỵ rụng trắng mặt sông, chim dòng dọc làm tổ rất duyên dáng trong những bụi bần. Khi những lượn sóng bạc tung mình mùa gió chướng, mùa chim về tổ, dừa nước dày cơm là mùa bần chín. Bần chín có vị chua chua, ngọt ngọt ăn rất ngon, nhưng vẻ non mơn mởn của bần xanh lại hấp dẫn con mắt chúng tôi vô cùng. Buổi trưa nghe văng vẳng tiếng ru con tha thiết của người mẹ trẻ “Đói lòng ăn trái bần xanh/Dù chua dù chát cũng đành vì ai ...”, đang cầm trái bần trên tay mà thương bần vô kể. Nhìn xung quanh, đứa nào áo quần cũng vá hai ba lỗ, ba mẹ mặc bộ quần áo rách như chiếc lá mục tự hỏi không biết bao giờ quê mình mới hết “bần” đây! Nhiều năm trôi qua, quê tôi đã hết bần hàn, nhà lá được thay bằng nhà xây thì cây bần vẫn ở trước sông, mùa trái chín rụng cả xuống dòng nước lững lờ trôi. Lũ trẻ vẫn háo hức chờ đợi bông hoa trắng pha sắc tím tinh khôi kết trái xanh non đợi mùa gió chướng về để chín. Tôi còn nghe nói trái bần đã đi vào siêu thị, chế biến thành bột bần nấu lẩu trong các nhà hàng và trên quầy bánh mứt đã có món mứt bần. Chợt vui khi thứ trái nhà quê đã thành món đặc sản nơi phố thị… Nguyễn Thị Việt Hà |
Chủ Nhật, 12 tháng 2, 2012
MÙA THIẾU PHỤ
MÙA THIẾU PHỤ
Dấu ba chấm anh để bên hiên
Giọt sương hay dấu chân em vừa quay gót
Hay nước mắt một đêm nào ủ dột
Ta lạc mất nhau.
"Như chiếc lá vô tình cứa mảng trời đau
Như gió vô tình buốt ngang mùa thiếu phụ
Đâu thể trách nụ mầm vừa mới nhú
Bật chiếc lá cuối cùng rơi khỏi nhánh mồ côi"
Chầm chậm thôi…nhịp đời tôi cơn gió ngược
Em lướt qua mảng phố muôn màu
Trời tuôn giọt mưa ngâu
Mùa thiếu phụ
Trôi qua
Em vội vã
Cải trổ ngồng
Thêm một lần thuyền tách bến sang sông
Tôi đứng như trời trồng
Rộng lượng với hoàng hôn
Nguyễn Thị Việt Hà
P/s: Đoạn trong " ", Việt Hà sử dụng tứ thơ anh Hải Phong viết thăm trên wall. Xin chắp bút.
Dấu ba chấm anh để bên hiên
Giọt sương hay dấu chân em vừa quay gót
Hay nước mắt một đêm nào ủ dột
Ta lạc mất nhau.
"Như chiếc lá vô tình cứa mảng trời đau
Như gió vô tình buốt ngang mùa thiếu phụ
Đâu thể trách nụ mầm vừa mới nhú
Bật chiếc lá cuối cùng rơi khỏi nhánh mồ côi"
Chầm chậm thôi…nhịp đời tôi cơn gió ngược
Em lướt qua mảng phố muôn màu
Trời tuôn giọt mưa ngâu
Mùa thiếu phụ
Trôi qua
Em vội vã
Cải trổ ngồng
Thêm một lần thuyền tách bến sang sông
Tôi đứng như trời trồng
Rộng lượng với hoàng hôn
Nguyễn Thị Việt Hà
P/s: Đoạn trong " ", Việt Hà sử dụng tứ thơ anh Hải Phong viết thăm trên wall. Xin chắp bút.
Thứ Sáu, 10 tháng 2, 2012
Thư gởi con gái
THƯ GỞI CON GÁI
Mẹ đã nhìn thấy gương mặt rạng rỡ của con khi mẹ mặc tấm áo con mua sáng nay tặng mẹ bằng tiền học bổng. Con choàng cả vòng tay ôm lấy mẹ thầm thì: “ Con ngắm chiếc áo này từ lâu mẹ ạ. Khi thấy chiếc áo khoác của mẹ đã sờn vai. Con để dành tiền học bổng suốt một học kì để mua được chiếc áo mừng tuổi mẹ. May quá, cửa hàng vẫn còn một chiếc cuối cùng”. Ba đang sửa chiếc quạt hỏng dừng tay lặng nhìn hai mẹ con, ba con gỡ kính, quay đi lau mắt. Mẹ biết, cũng như mẹ, ba đang hạnh phúc vì có con, con gái ạ.
Đêm nay, mẹ thao thức mãi, nhìn con nghiêng nghiêng giấc ngủ, mẹ muốn đặt môi hôn lên đôi má xuân thì như hồi con còn bé bỏng. Con gái của mẹ xinh đẹp, ngời sức sống kể cả khi ngủ. Mẹ tự hào, mẹ muốn nói với con thật nhiều lời yêu thương…
Thưở bé, con mũm mĩm, trắng hồng, lại ngoan hiền, lễ phép, khi ba mẹ bế con đi chơi ai cũng ngoái lại nhìn, mẹ vui đến mức không dấu nổi nụ cười hãnh diện. Con thơm thảo, hiếu thuận từ nhỏ. Ba cho quà bánh, con luôn chia làm hai phần, một cho mình, một phần cho mẹ. Đôi môi xinh líu lo: “ Mẹ và Ba là hai chân trời của con”. Ba bồng con âu yếm: “ Ừ, ba và mẹ là hai chân trời của con, là nơi con nương tựa, là nơi con tìm về để yêu thương. Con là chân trời của ba mẹ, gia đình mình luôn sống trong những tháng ngày hạnh phúc”. Ba là bộ đội hải quân cả năm mới được về nhà một lần, nhớ ba con chỉ ngón tay bé xíu lên chấm tròn trên bản đồ Tổ Quốc thầm thì với mẹ: “ Đây là đảo của nhà mình vì ba con canh gác nơi đó, mẹ nhỉ?”, nhìn con lúc ấy sao mà đáng yêu đến thế. Có lần mẹ sốt nằm lịm, khi tỉnh dậy thấy con gái bé bỏng thiếp đi bên cạnh mẹ, trên trán mẹ là chiếc khăn ướt. Ôi con gái bé bỏng chưa đầy 10 tuổi đã biết chăm sóc mẹ khi ốm đau rồi. Chỉ cần điều đó thôi, mẹ đã có đủ nghị lực, sức khỏe để hy sinh tất cả vì con, vì ba.
Con gái lớn lên trắng da dài tóc, đẹp xinh thùy mị, chân thành, trung thực, không đua đòi, ăn chơi. Con cũng chẳng ganh tị và nói xấu ai bao giờ. Mẹ thầm cảm ơn bà Mụ khéo nặn để “ nhặt” ra những gì tốt đẹp nhất của ba mẹ trao cho con. Con không chỉ là niềm hy vọng của ba mẹ mà còn là niềm tự hào, là ngọn lửa nhỏ ấm áp của gia đình ta.
Năm nay mùa đông đến sớm, con đường đến cơ quan xao xác gió lạnh, mẹ thấy mình rất ấm khi mặc chiếc áo khoác con mua. Chiếc áo ấy hẳn không giống bất cứ chiếc áo ấm nào trên thế gian này vì nó đã được con ủ bằng tất cả tình yêu thương của con dành cho mẹ.
Con gái của mẹ !
Còn vài mươi tiếng đồng hồ nữa con sẽ sang tuổi 18, tuổi đẹp nhất của đời người con gái. Mẹ muốn gom tất cả mọi bình yên, hạnh phúc trên thế gian này cho con gái của mẹ. Nhưng mẹ sẽ bắt đầu nói với con về những mong ước giản dị nhất mà mẹ cầu chúc cho con, con gái nhé!
Bất cứ bậc cha mẹ nào cũng mong con mình học sao cho giỏi, mẹ không ngoại lệ. Con hãy xác định học để hiểu chứ không phải học vì điểm. Học vì tương lai chứ không vì sự hấp dẫn của ánh hào quang dễ vỡ.Hãy cố gắng học thành tài bằng khả năng con có.Việc gì cũng có thể làm sau nhưng việc học thì không, vì cơ hội và thời gian không chờ đợi bất kì ai.Mẹ mong con học thật nhiều từ cuộc sống, học để thấy yêu đời hơn, học để tự mình tốt hơn, học để lập thân và chung sống.
Mẹ biết con gái vốn yếu đuối, hay khóc thầm mỗi khi gặp thất bại hay gặp điều khó nghĩ. Nhưng con thân yêu, con hãy luôn mỉm cười với hiện tại, phải luôn đối mặt với nó, vì cuộc đời vốn không chỉ màu hồng. Mẹ mong con có đủ bản lĩnh không gục ngã trước những khó khăn, con hãy xem đó là những bài học, những thử thách để hành trang của con có thêm kinh nghiệm sống và vượt qua nó một cách lạc quan nhất. Nếu ngã con hãy tự đứng dậy và dũng cảm đi tiếp. Như thế con sẽ thanh thản biết bao.Con gái của mẹ có nụ cười rạng rỡ và đáng yêu... Đừng bao giờ quên mỉm cười con nhé!
Ba mẹ sẽ vui mừng biết bao khi con sống tự lập, có năng lực, quyết đoán, dám nhận trách nhiệm, tự quyết định những gì mình cho làđúng và bày tỏ cảm xúc một cách trung thựcngay cả những chuyện chỉ mình con biết. Điều đó rất cần thiết để con biết khiêm tốn để học hỏi, trầm lắng để tự tin và tự khẳng định bản thân, để con chiến thắng chính mình và vững vàng trên con đường lập thân sau này.
Mẹ mong con có trái tim nhân hậu sẽ không thờ ơ với những người bất hạnh xung quanh. Hạnh phúc như một thứ nước hoa mà hễ ta đổ cho người khác thì cũng được vài giọt cho chính mình. Khi con biết chia sớt may mắn của mình cho những phận người khốn khó nghĩa là con đã giàu có thêm rất nhiều.Khi con biết yêu những điều giản dị quanh mình thì mỗi ngày con có thể vui từ những điều đơn giản nhất, trao yêu thương và nhận yêu thương nhiều nhất.
Rồi con sẽ yêu. Tình yêu và sự nghiệp là hai điều quan trọng trong đời sống của mỗi người. Khi yêu đúng người và đúng thời điểm, tình yêu ấy sẽ chắp cánh cho con bay thật cao, thật xa... Mẹ mong con gái sẽ tìm được chàng trai mà con mong đợi, yêu thương con như ba đã yêu thương mẹ.
Sau bức thư mùa xuân cho con gái, mẹ sẽ hôn con bên má phải và hôn con giúp ba bên má trái như những ngày con còn bé bỏng…
Nguyễn Thị Việt Hà
P/s: Bài đã sử dụng trên Thế Giới Phụ Nữ Xuân 2012
Thứ Ba, 7 tháng 2, 2012
THƯƠNG NHỚ TÂY NGUYÊN
THƯƠNG NHỚ TÂY NGUYÊN
08/02/2012 12:11 | 1 lượt xem
( Viết cho nỗi niềm thương nhớ Tây Nguyên của riêng tôi...)
Thương nhớ Tây Nguyên…
Cập nhật lúc 09:15, Thứ Năm, 02/02/2012 (GMT+7)
Tôi thả bộ theo những con dốc thoai thoải, một chiếc xe khách vù qua, tôi cúi mặt xuống tránh những cơn lốc đỏ, khi ngẩng lên bỗng sững người: vạt nắng vàng chói bạt ngàn từ hoa như tràn từ vời vợi trời xanh xuống từ lúc nào và bất ngờ đến mức chỉ có thể reo lên “Ôi, dã quỳ… dã quỳ…”. Vạt nắng ấy vừa bung, ngân ngấn vàng chảy suốt từ đỉnh đồi đến chân dốc, tưởng chừng như vô tận.
| |
| Hoa đào phố núi. Ảnh Phan Văn Em |
Madaguil là thị trấn cửa ngõ của tỉnh Lâm Đồng tiếp giáp tỉnh Đồng Nai. Madaguil trầm lặng và cũ kĩ tới mức dầu có đi xa chừng vài năm mới trở lại cũng vẫn nhận ra vệt cỏ cũ dưới chân nhà thờ, khu chợ với người bán hàng quen mặt, một hàng quán treo rất nhiều phong lan luôn mở nhạc Trịnh vẫn nằm nguyên chốn cũ. Lần nào về thị trấn tôi cũng thăm cô dạy văn thời phổ thông, cô cười, nụ cười thơm như hoa lan, xoa tóc tôi: “Xứ Ma mấy ai tìm về, phố này bạc thếch bụi, nghèo nàn nhưng cái tình vẫn ấm như lòng bàn tay cô vậy…”.
Lâm Đồng là xứ sở của dã quỳ nhưng có tìm nát cả ngọn đồi xanh, dãy núi thẳm trùng điệp trước mắt của thị trấn Madaguil cũng không thấy được một gốc nhỏ dã quỳ. Thế nhưng chỉ cần rời Madaguil, vượt qua đèo chuối, đến Đạ Tẻn dã quỳ đã bắt đầu lấp ló khoe vùng lá xanh kiêu hãnh nâng đỡ những bông hoa vàng đến độ cô bạn nhà thơ của tôi khẳng định “Chẳng thể nào vàng hơn dã quỳ đâu”.
Lần đầu tiên tôi biết đến dã quỳ là khi đến thăm cậu tôi ở Ninh Thuận. Theo xe cậu đưa trái thanh long lên Đà Lạt, xe chầm chậm leo đèo, khi gió cuốn những cơn lốc đỏ nhuộm áo người đi đường tôi nhìn thấy hai bên đường hun hút thẳm lá xanh, màu xanh không thể lẫn với cây cỏ bạt ngàn Tây Nguyên kiên nhẫn chạy trước tầm mắt. Cậu bảo: “Cây dã quỳ đấy, cháu nhìn kĩ sẽ thấy nhu nhú nụ vàng. Vài hôm nữa dọc con đường này sẽ rực sắc vàng”. Đèo Ngoạn Mục gấp khúc, quanh co, bụi đỏ làm mờ kính xe nhưng vạt xanh ấy kiêu hãnh như thể gom hết cả bốn mùa, gom hết nắng gió Tây Nguyên để bừng lên sức sống.
Tây Nguyên của tôi đây, mùa khô và những cơn lốc đỏ, những con đường nghiêng theo con dốc, ngôi nhà gỗ giữa bạt ngàn cây lá, phố nhỏ và cỏ lá vệ đường như cổ tích, những ngày nắng gắt, những ngày mưa rừng dữ dội, cỏ may vệ đường găm tím vạt áo… Thị trấn Dran chiều vắng lặng như một bức tranh màu trầm. Khói từ những gian bếp là là bay sang những bụi hoa sao nhái sát vách nhà đang nở dày đặc hoa vàng cánh mỏng. Dran chỉ là một thị trấn rất nhỏ trung tâm của huyện Đơn Dương cách Đà Lạt khoảng 40km. Dran heo hút, yên bình, trong lành. Đặc biệt ở đây có một con đường hoa dã quỳ mà bạn tôi nhất quyết cho rằng đó là con đường quỳ vàng đẹp nhất ở Lâm Đồng. Cung đường ngập tràn chỉ toàn hoa dã quỳ, ngợp mùi đăng đắng, hăng hắc. Ôi mùi của nắng, gió, sương mai, của Tây Nguyên những con đường đất đỏ.
Đêm ấy trăng, bầu trời trong vắt, ánh trăng sáng bàng bạc trên những đỉnh núi lô nhô trải ngút tầm mắt. Ngồi với bạn cho đến khi trăng tách hẳn bóng rừng đêm thẫm dài, phố núi khi ấy rất khuya, im lặng, cả hai không nói điều gì ngồi tựa lưng nhau, kéo cao áo khoác, bạn nắm tay thầm thì: “ Ngủ thôi, mai bạn đi Pleiku rồi… Mấy ngày nữa trở lại miền Tây đừng quên phố núi này nhen…”. Sớm, bạn tiễn ra xe, dúi vào tay một gói nhỏ: “Hạt dã quỳ đó, biết đâu dưới đó trồng được, biết đâu hoa lại ngờm ngợp nở để bạn nhớ kí ức vừa đau khổ vừa hạnh phúc”, nhìn bạn rưng rưng, xiết chặt tay để thấy cái tình “ấm như lòng bàn tay”. Xe chạy, những cơn lốc đỏ cuốn lên, trôi đi hiện ra những vạt hoa vàng bất tận không mọc riêng lẻ bao giờ cứ nối dài thành lớp lớp sóng xô. Màu vàng hoang dại ấy đã thắp lên nỗi nhớ Tây Nguyên của không biết bao nhiêu người từng đến, ở lại và ra đi.
Tháng hai Pleiku còn lạnh, vẫn nắng quỳ mênh mang, phố, dốc, sương mù và thông. Bạn mời phở khô ở quán Ngọc Sơn, một trong những quán bán phở khô đầu tiên tại Pleiku, từ những thập niên 60. Phở khô ở Pleiku là một món ăn khá đặc biệt. Bánh phở khô trộn với thịt gà, rau thơm và tương đen kèm theo là một bát nước dùng có rắc chút hành hoa. Bạn lại chở đến café Thu Hà ở 09 Nguyễn Thái Học, một quán café nổi tiếng của thành phố Pleiku. Phin cà phê nóng đặt trên một cái ly nhỏ, trong lòng một cái ly lớn hơn có đổ nước sôi để giữ ấm. Một chút sữa cô đặc ở dưới đáy ly. Từng giọt cà phê lặng lẽ rơi, khiến cho phần sữa đặc dần biến mầu và tan dần. Tôi nhấp từng ngụm nhỏ. Bạn không thuốc lá. Quán không nhạc Trịnh. Tạ ơn Trời Phật. Có nhiều quán cà phê luôn gắn liền cà phê với nhạc Trịnh, nhạc tiền chiến. Đâu cần thiết phải như thế. Cà phê cao nguyên đậm đà, mãnh liệt như sức sống của cây cỏ và người dân nơi đây, với những Y Moan, Siu Black với nhạc Nguyễn Cường, những bản rock rực lửa và sôi động. Bạn giới thiệu ở Pleiku có phố cà phê ở khu vực Đức An, tôi chỉ cười: “Uống café Thu Hà đã đủ hương vị Pleiku. Mình chỉ muốn dạo trên những con đường đất đỏ với thông và dốc”. Bạn lơ đễnh: “Thông đã bị người ta hạ xuống quá nhiều… Con đường Lê Lợi cách đây hơn 10 năm tôi và bạn cùng đi khác xưa nhiều lắm!”.
Dốc mềm như dáng người con gái và sương bảng lãng quấn quýt, thành phố thấp thoáng những thảm xanh, những con đường đất đỏ đã được trải nhựa. Tôi nhớ Tây Nguyên nhòa trong một màu đỏ, từng cơn gió cuốn bụi đất đỏ xé ngang trời những năm 90. Để khi đến trường tà áo dài trắng muốt của tôi loáng thoáng nhuộm màu con đường. Tôi cố tìm gốc xà nu (thông) cổ thụ, sần sùi trên đường Trần Hưng Đạo (đường Trịnh Minh Thế cũ), bạn thở dài: “Chúng bị đốn cả rồi, ngày ấy thấy dòng nhựa thông cổ thụ ứa ra, tôi còn muốn khóc…”. Đường Trần Hưng Đạo một dạo trơ khấc, chang chang nắng rồi thông trở lại mươn mướt xanh, vươn thẳng như chạm đến mặt trời, ngơ ngác nẩy mầm trên đám vỏ cũ mốc, tiếng chim cất lên trong tán lá giữa phố chơ vơ gạch đá những công trình xây dựng nhưng rồi trên lối tôi đi nham nhở những hàng thông bị triệt hạ. Chiều rông rốc nắng, chợt nghe xót… Thông còn lại lác đác những dáng thông cô độc, trầm tư, Pleiku không còn thông có còn là Pleiku nữa không? Cũng như Đà Lạt… Pleiku, Đà Lạt sẽ mãi mãi là Pleiku, Đà Lạt khi vi vút thông reo bên thung lũng giăng kín sương mù. Tôi mong điều đó biết chừng nào.
Tiễn tôi, bạn bỏ vào ba lô một gói café “trộn”: “ Không thương hiệu café nào ngon hơn loại café trộn này đâu. Mình đã chọn nhiều hương vị café trộn vào đây theo một công thức của dân sành café nhất nhì Pleiku này tặng bạn. Mang về miền Tây để nhớ Tây Nguyên…”. Ừ… xe đã chuyển bánh đâu mà tôi đã nhớ Tây Nguyên cồn cào gan ruột…
Lâm Đồng là xứ sở của dã quỳ nhưng có tìm nát cả ngọn đồi xanh, dãy núi thẳm trùng điệp trước mắt của thị trấn Madaguil cũng không thấy được một gốc nhỏ dã quỳ. Thế nhưng chỉ cần rời Madaguil, vượt qua đèo chuối, đến Đạ Tẻn dã quỳ đã bắt đầu lấp ló khoe vùng lá xanh kiêu hãnh nâng đỡ những bông hoa vàng đến độ cô bạn nhà thơ của tôi khẳng định “Chẳng thể nào vàng hơn dã quỳ đâu”.
Lần đầu tiên tôi biết đến dã quỳ là khi đến thăm cậu tôi ở Ninh Thuận. Theo xe cậu đưa trái thanh long lên Đà Lạt, xe chầm chậm leo đèo, khi gió cuốn những cơn lốc đỏ nhuộm áo người đi đường tôi nhìn thấy hai bên đường hun hút thẳm lá xanh, màu xanh không thể lẫn với cây cỏ bạt ngàn Tây Nguyên kiên nhẫn chạy trước tầm mắt. Cậu bảo: “Cây dã quỳ đấy, cháu nhìn kĩ sẽ thấy nhu nhú nụ vàng. Vài hôm nữa dọc con đường này sẽ rực sắc vàng”. Đèo Ngoạn Mục gấp khúc, quanh co, bụi đỏ làm mờ kính xe nhưng vạt xanh ấy kiêu hãnh như thể gom hết cả bốn mùa, gom hết nắng gió Tây Nguyên để bừng lên sức sống.
Tây Nguyên của tôi đây, mùa khô và những cơn lốc đỏ, những con đường nghiêng theo con dốc, ngôi nhà gỗ giữa bạt ngàn cây lá, phố nhỏ và cỏ lá vệ đường như cổ tích, những ngày nắng gắt, những ngày mưa rừng dữ dội, cỏ may vệ đường găm tím vạt áo… Thị trấn Dran chiều vắng lặng như một bức tranh màu trầm. Khói từ những gian bếp là là bay sang những bụi hoa sao nhái sát vách nhà đang nở dày đặc hoa vàng cánh mỏng. Dran chỉ là một thị trấn rất nhỏ trung tâm của huyện Đơn Dương cách Đà Lạt khoảng 40km. Dran heo hút, yên bình, trong lành. Đặc biệt ở đây có một con đường hoa dã quỳ mà bạn tôi nhất quyết cho rằng đó là con đường quỳ vàng đẹp nhất ở Lâm Đồng. Cung đường ngập tràn chỉ toàn hoa dã quỳ, ngợp mùi đăng đắng, hăng hắc. Ôi mùi của nắng, gió, sương mai, của Tây Nguyên những con đường đất đỏ.
Đêm ấy trăng, bầu trời trong vắt, ánh trăng sáng bàng bạc trên những đỉnh núi lô nhô trải ngút tầm mắt. Ngồi với bạn cho đến khi trăng tách hẳn bóng rừng đêm thẫm dài, phố núi khi ấy rất khuya, im lặng, cả hai không nói điều gì ngồi tựa lưng nhau, kéo cao áo khoác, bạn nắm tay thầm thì: “ Ngủ thôi, mai bạn đi Pleiku rồi… Mấy ngày nữa trở lại miền Tây đừng quên phố núi này nhen…”. Sớm, bạn tiễn ra xe, dúi vào tay một gói nhỏ: “Hạt dã quỳ đó, biết đâu dưới đó trồng được, biết đâu hoa lại ngờm ngợp nở để bạn nhớ kí ức vừa đau khổ vừa hạnh phúc”, nhìn bạn rưng rưng, xiết chặt tay để thấy cái tình “ấm như lòng bàn tay”. Xe chạy, những cơn lốc đỏ cuốn lên, trôi đi hiện ra những vạt hoa vàng bất tận không mọc riêng lẻ bao giờ cứ nối dài thành lớp lớp sóng xô. Màu vàng hoang dại ấy đã thắp lên nỗi nhớ Tây Nguyên của không biết bao nhiêu người từng đến, ở lại và ra đi.
Tháng hai Pleiku còn lạnh, vẫn nắng quỳ mênh mang, phố, dốc, sương mù và thông. Bạn mời phở khô ở quán Ngọc Sơn, một trong những quán bán phở khô đầu tiên tại Pleiku, từ những thập niên 60. Phở khô ở Pleiku là một món ăn khá đặc biệt. Bánh phở khô trộn với thịt gà, rau thơm và tương đen kèm theo là một bát nước dùng có rắc chút hành hoa. Bạn lại chở đến café Thu Hà ở 09 Nguyễn Thái Học, một quán café nổi tiếng của thành phố Pleiku. Phin cà phê nóng đặt trên một cái ly nhỏ, trong lòng một cái ly lớn hơn có đổ nước sôi để giữ ấm. Một chút sữa cô đặc ở dưới đáy ly. Từng giọt cà phê lặng lẽ rơi, khiến cho phần sữa đặc dần biến mầu và tan dần. Tôi nhấp từng ngụm nhỏ. Bạn không thuốc lá. Quán không nhạc Trịnh. Tạ ơn Trời Phật. Có nhiều quán cà phê luôn gắn liền cà phê với nhạc Trịnh, nhạc tiền chiến. Đâu cần thiết phải như thế. Cà phê cao nguyên đậm đà, mãnh liệt như sức sống của cây cỏ và người dân nơi đây, với những Y Moan, Siu Black với nhạc Nguyễn Cường, những bản rock rực lửa và sôi động. Bạn giới thiệu ở Pleiku có phố cà phê ở khu vực Đức An, tôi chỉ cười: “Uống café Thu Hà đã đủ hương vị Pleiku. Mình chỉ muốn dạo trên những con đường đất đỏ với thông và dốc”. Bạn lơ đễnh: “Thông đã bị người ta hạ xuống quá nhiều… Con đường Lê Lợi cách đây hơn 10 năm tôi và bạn cùng đi khác xưa nhiều lắm!”.
Dốc mềm như dáng người con gái và sương bảng lãng quấn quýt, thành phố thấp thoáng những thảm xanh, những con đường đất đỏ đã được trải nhựa. Tôi nhớ Tây Nguyên nhòa trong một màu đỏ, từng cơn gió cuốn bụi đất đỏ xé ngang trời những năm 90. Để khi đến trường tà áo dài trắng muốt của tôi loáng thoáng nhuộm màu con đường. Tôi cố tìm gốc xà nu (thông) cổ thụ, sần sùi trên đường Trần Hưng Đạo (đường Trịnh Minh Thế cũ), bạn thở dài: “Chúng bị đốn cả rồi, ngày ấy thấy dòng nhựa thông cổ thụ ứa ra, tôi còn muốn khóc…”. Đường Trần Hưng Đạo một dạo trơ khấc, chang chang nắng rồi thông trở lại mươn mướt xanh, vươn thẳng như chạm đến mặt trời, ngơ ngác nẩy mầm trên đám vỏ cũ mốc, tiếng chim cất lên trong tán lá giữa phố chơ vơ gạch đá những công trình xây dựng nhưng rồi trên lối tôi đi nham nhở những hàng thông bị triệt hạ. Chiều rông rốc nắng, chợt nghe xót… Thông còn lại lác đác những dáng thông cô độc, trầm tư, Pleiku không còn thông có còn là Pleiku nữa không? Cũng như Đà Lạt… Pleiku, Đà Lạt sẽ mãi mãi là Pleiku, Đà Lạt khi vi vút thông reo bên thung lũng giăng kín sương mù. Tôi mong điều đó biết chừng nào.
Tiễn tôi, bạn bỏ vào ba lô một gói café “trộn”: “ Không thương hiệu café nào ngon hơn loại café trộn này đâu. Mình đã chọn nhiều hương vị café trộn vào đây theo một công thức của dân sành café nhất nhì Pleiku này tặng bạn. Mang về miền Tây để nhớ Tây Nguyên…”. Ừ… xe đã chuyển bánh đâu mà tôi đã nhớ Tây Nguyên cồn cào gan ruột…
Nguyễn Thị Việt Hà
P/s: Bài đã sử dụng trên VĂN NGHỆ TRẺ số ra ngày 5 tháng 2 năm 2012
Thứ Hai, 6 tháng 2, 2012
“Ba hạt đậu ..” của cô giáo Hà
| “Ba hạt đậu ..” của cô giáo Hà Cập nhật ngày: 06/02/2012 16:17:43 | ||
| http://www.baocamau.com.vn/newsdetails.aspx?newsid=19912 | ||
Hà có gương mặt xinh xắn, thường điểm những nụ cười thật tươi, nhưng nổi bật là cô rất thu hút người khác bằng chính sự nhiệt thành cùng với cái nét “quê quê”. Có ai biết bên trong dáng vẻ yếu ớt ấy là một nghị lực phi thường, vượt lên chiến thắng mọi hoàn cảnh. Ngoài công việc chính là dạy văn, Hà còn viết báo, viết văn, làm thơ. Những truyện ngắn của Hà, thật ra đó là những âm thanh của xúc cảm, được trào ra từ những nỗi đau dồn nén lâu ngày, để rồi thành dòng chảy ào ạt như những con sông, vẫn chảy tới cho dù có gặp nhiều khúc quanh. Có những phút ngã lòng… vẫn nghĩ về phía trước Hà sinh năm 1978, tại Cà Mau. 8 năm sau, bố đánh đổ tất cả, bỏ mặc vợ và ba đứa con thơ để theo một phụ nữ trẻ đẹp khác. Không nhà, không đất, không tiền… bốn mẹ con dắt díu nhau về quê ngoại Bắc Giang nương tựa.
Nhà nghèo, thường ăn khoai thay cơm, nhưng bằng mọi giá, mẹ Hà vẫn cho các con đến trường. Nhớ lại thời Hà còn quá bé ở Bắc Giang, có lần đi cắt rau lợn trên cánh đồng ngô, nghĩ đến những bắp ngô thơm ngọt, Hà phát thèm, thèm đến “cả gan” bẻ trộm. Mẹ biết được giận lắm, bảo ăn trộm là xấu xa, rồi dẫn Hà đi xin lỗi, xin được trả tiền 6 trái ngô con mình đã hái. Chủ đồng ngô không giận, không nhận tiền, còn cho thêm ngô, nhưng mẹ nhất định không nhận mà xin mua mấy chục ngô mới. Đêm đó, mẹ vừa kể vừa khóc, câu chuyện về một chú bé mồ côi. Ba chị em cũng vừa nghe vừa khóc, rồi mẹ dạy phải sống thế nào cho kiêu hãnh, trong sạch. Những câu chuyện kể của bà mẹ nghèo thành những bài học sâu sắc, dạy dỗ chị em Hà nên người. Hà chăm chỉ làm nhiều việc để kiếm tiền giúp mẹ, nỗ lực học thật giỏi. Năm 1996, cô thi đỗ 3 trường đại học. Cũng năm đó, Hà đã lặn lội từ căn nhà tranh nơi xó rừng Madagui để về tận Cái Đôi Vàm, Cà Mau, xin vào lột tôm cho Công ty Cadovimex, chỉ mong đủ tiền đóng học phí để năm sau bước vào khoa Luật, Trường Đại học Tổng hợp TP Hồ Chí Minh, ngành nghề mà cô thích. Hà cho biết: “Em xuống Cà Mau để lột tôm đấy chớ, nhưng cái duyên đã cho em cái may được học cao đẳng sư phạm và trở thành cô giáo". Hà xin chuyển về Trường Cao đẳng Sư phạm. Ngoài giờ học, Hà đi làm thuê rửa chén cho một nhà hàng gần trường, tối về viết văn, viết báo cộng tác… Hằng tháng, tiền kiếm được gởi về cho mẹ nuôi hai em ăn học. Sau đó, lần lượt đưa hai em trở lại Cà Mau theo chị. Với số điểm cao nhất trường, Hà được nhận học bổng của Bộ GD-ĐT cấp cho đến khi ra trường. Trong thời gian này, trường phát động cuộc thi “Tài năng sư phạm” dành cho các giáo sinh. Với 2 môn, gồm thuyết trình và dạy 1 tiết trên lớp, cô tham dự và một lần nữa lại đứng đầu bảng. Ngày tốt nghiệp với tấm bằng loại giỏi, Phòng GD-ĐT huyện Cái Nước muốn giữ Hà lại, nhưng cô xin được về dạy học tại thị trấn Cái Đôi. Năm 2000, Hà là giáo viên duy nhất của huyện đạt giỏi môn xã hội, năm 2001 là giáo viên giỏi cấp tỉnh, đến năm 2004 là nữ hiệu trưởng trẻ nhất tỉnh Cà Mau. Khi đã ổn định cuộc sống, cô tiếp tục đón mẹ vào, mong cho mẹ được sống những ngày yên ấm, thanh thản để bù đắp lại thời quá khứ nhọc nhằn với bao cay đắng, tủi nhục. Nhưng bà mẹ đức độ yêu con, giàu lòng hy sinh ấy, chưa kịp sống vui bên đàn con trưởng thành, tóc vẫn chưa kịp bạc, đã “đi xa” vì căn bệnh ung thư thận. Từ đó, Hà cũng như mẹ “lăn lóc hết chợ xa chợ gần, làm đủ công việc nặng nhọc…” thay mẹ tiếp tục nuôi dạy 2 em thành người hữu dụng. "Ba hạt đậu xanh của mẹ" ngày nào đã lớn lên vững chãi cùng nắng gió, ba chị em đều trở thành thầy, cô giáo đang "ươm mầm tri thức" cho những thế hệ học sinh tại một làng quê nghèo bên chân sóng. Mỗi lần nghĩ lại, Út Trung càng thương chị nhiều hơn. Thầy Trung bộc bạch: “Hồi đó, vì không chịu nổi cảnh nghèo khó, tôi bỏ học đi làm lơ xe kiếm tiền, rồi tập tành nhậu nhẹt, cãi lời chị…”. Và để thuyết phục em tiếp tục việc học, Hà đập gãy chiếc vòng mã não trên tay, cầm mảnh vỡ rạch vào tay mình đến tứa máu mà nói: “Nếu em không nghe, chị nhất quyết chết tại đây”. Còn cô em gái Việt Hằng cho biết: “Chị Hà bán kem, bán sinh tố, chuối nướng, cắt cỏ mướn… khi chị ấy đã là hiệu trưởng. Chị vất vả nhiều nhưng nghị lực và niềm hy vọng thì lớn hơn mọi thứ”. Duyên nợ cùng những con chữ Tại buổi lễ trao giải cuộc thi Truyện ngắn khu vực ĐBSCL lần thứ IV tại tỉnh An Giang, không chỉ với tư cách là tác giả đến nhận giải, mà Hà còn nắm số liệu, phỏng vấn, ghi hình một số nhân vật. Trước giờ khai mạc, cô đã kịp chuyển mail về trang tin của Hội Nhà văn Việt Nam. Hà hiện đang là cộng tác viên cho nhiều tờ báo: Báo Cà Mau, Tạp chí Văn nghệ Cà Mau, Thời nay, Nhân dân Chủ nhật, Phụ nữ Việt Nam cuối tuần, Thế giới mới, Tài hoa trẻ... Bên những tình yêu nồng ấm dành cho học trò, cô viết như một nhu cầu không thể thiếu. Duyên nợ cùng những con chữ của Hà cũng khá thú vị. Là học sinh giỏi văn trong đội tuyển hạt giống đỏ của Trường Năng khiếu Việt Yên - Hà Bắc, năm 9 tuổi, cô đoạt giải xuất sắc cuộc thi “Phóng viên nhỏ” do Báo Tiền Phong tổ chức, với tác phẩm "Ba bét ta thành Ba bét nhè". Sau ngày đó, Hà tập tễnh làm thơ, viết văn. Chính văn học đã bồi dưỡng cho cô từ lúc "tí tuổi đầu" có đủ đầy tự tin bơi khỏe theo dòng chảy khắc nghiệt cuộc sống. 16 năm dấn thân cùng "con chữ", vất vả, chông gai, cô càng hiểu chân giá trị cuộc sống. Đã có hơn 300 truyện ngắn, bài thơ, tản văn, chưa kể những bài báo… Từng trang viết của Hà luôn "ánh lên niềm khát khao cháy bỏng về một cuộc sống bình yên tốt đẹp". Dạy văn và viết văn có sự tương đồng. Hà tâm sự: “Viết văn phát huy tính sáng tạo giúp tôi dạy văn linh hoạt, để học sinh không cảm thấy mệt mỏi trong những tiết học. Còn nghề giáo khiến tôi trầm tĩnh, chính chắn”. Nhà thơ Mai Liễu, Ủy ban LHTQ các Hội VHNT Việt Nam, Trưởng Ban Văn nghệ địa phương, tại Trại Sáng tác văn học ĐBSCL ở Cần Thơ tháng 9/2011, phát biểu: “Tôi đã nhìn thấy nội lực mạnh mẽ trong những trang thơ của Việt Hà. Con đường của Hội nhà văn đang mở rộng đón chào cô ấy". Trong những câu chuyện cổ tích ngày xưa, có các bà Tiên, ông Bụt thường giúp những cô gái nghèo, hiền hậu ba hạt đậu thần để đạt được ước mơ. Còn với cô giáo Việt Hà, chính cô đã tự mình "biến hóa", tạo nên ba hạt đậu diệu kỳ: Mang đến cho người mẹ dấu yêu của mình một niềm tin, cho xã hội những công dân hữu ích và hơn nữa là góp thêm cho đời những trang viết đẹp, giàu tình yêu đất nước, con người./. Bút ký của Đỗ Thùy Mai |
Thứ Bảy, 4 tháng 2, 2012
DUYÊN XUÂN
DUYÊN XUÂN
05/02/2012 10:58 | 0 lượt xem
Dì Tư đưa hũ mắm cá chốt thủng thẳng nói: “ Tết, bây ăn cá thịt hoài cũng ngán. Cho bây hũ mắm này về ăn chung với chuối chát, khế chua, ớt hiểm… đổi món nghe con”. Mới nghe tới đó, trong đầu đã mường tượng ra chén cơm trắng ăn với mắm cá chốt thơm ngon, mềm tới xương, dai dai sựt sựt… nhiêu đó thôi cũng đủ “ đánh bại” mấy món thịt quay, chả giò, chả lụa bầy ê hề trên mâm cỗ mừng năm mới. Dì Tư kể, hồi mấy mươi năm trước miệt Bạc Liêu, Cà Mau cá chốt nhiều vô kể, chỉ cần vung lưới kéo lên cá mắc lưới nặng tay, thậm chí chỉ cần nhử mồi thơm ở bất kì khúc sông nào đó cá chốt nổi đầu, râu nhô lên tua tủa. Cá chốt làm mắm nguyên khạp, nấu đủ thứ món, đem biếu nhau ăn lấy thảo. Người miền Tây thiệt thà là vậy, có gì cho nấy, không câu nệ đó là cao sang hay chỉ là món dân dã bình thường. Chợt nghe cơn gió chướng se se lạnh, cơn mưa còn sót lại của mùa mưa mới qua đủ làm mềm ướt cánh đồng miền Tây với vụ lúa ba vụ vàng đồng, cây mai vừa vặt lá trong vườn vẫn còn dày bông xen kẽ với những nụ chồi non tơ biếc rộn rã khoe sắc vàng tươi sắc nắng, óng vàng màu áo mới cô thôn nữ như nhắc nhở tết đã qua nhưng nàng xuân còn ngự trị ở nơi này…
Tết qua rồi dư âm còn để lại trên những cung đường rạng rỡ sắc xuân, cây xanh lá, áo tươi màu, sắc mặt ai cũng ngời ngời hạnh phúc. Mỉm cười nhìn mấy đứa trẻ vừa rút tiền từ những bao lì xì vừa tranh nhau kể sẽ mua cái này, cái nọ. Thấy mình như trẻ dại, hồn nhiên. Ước gì ngay lúc này, và thêm một chút thời gian tôi giữ được cái rộn ràng dư âm ngày tết của một thời mà người ta vẫn vẫn gọi là trẻ thơ, là bình yên, là kí ức đẹp một thời con nít. Dụi đầu vào ngực dì Tư còn thơm lá chuối non mới tách ở vườn, tôi đòi…lì xì. Dì cười: “ Cha bây, sắp lấy chồng rồi còn nhõng nhẽo!”. “ Thôi, con ở đây luôn với dì Tư hà, ai them lấy chồng…”. Dì Tư nói hồi bằng tuổi tôi dì đã sanh tới ba đứa con rồi. Hai dì cháu cười vang khúc sông rộng.
Anh đứng đó, tay ôm bó bông mới cắt trong vườn, xách thêm xâu cá lóc lúng túng thưa: “Má con biểu đem mấy con cá lóc đồng biếu dì Tư”. Dì Tư dòm anh, cắc cớ hỏi khó: “ Ừa, dì cám ơn. Bó bông này hổng lẽ má bây cũng biểu tặng dì luôn heng…”. Tuấn đỏ mặt, miệng như ngậm bồ hòn, ngắc ngứ hồi lâu mới nói nhỏ: “ Dạ hông, bó bông là con tặng cho út Thương. Nghe nói, mai, cổ về xứ….Con qua thăm…”. Dì Tư cười cười, nói bâng quơ: “ Có duyên thì biết đâu út Thương làm dâu xứ này”. Đến lượt tôi đỏ mặt, anh Tuấn nhìn tôi, ánh mắt đầy hy vọng.
Chúng tôi đi bên nhau, dưới hàng dừa gió lộng, mặt kênh êm đềm, vài khóm lục bình trổ bông tím ngắt lững lờ trôi. Anh nói với tôi rất nhiều điều trong sáng xuân hôm ấy, về cái tết đặc biệt trong đời khi anh bắt gặp tôi đang nâng niu mang cành lộc biếc vào nhà, anh bối rối khi tôi quay lại nhoẻn miệng cười, nụ cười như những bông mai chúm chím nở những cánh vàng đầu tiên. Anh yêu mảnh đất này, nơi anh sinh ra, chẳng nỡ đi đâu xa dù có cơ hội ở lại thành phố. Mỗi dòng kênh, mỗi mảnh vườn. mỗi con đường khó nhọc miền Tây như chờ anh chở lại…Anh nhìn tôi, cái nhìn ấm áp đủ khiến tâm hòn tôi xao động: “ Út Thương có chịu ở lại xứ này làm dâu?”. Tôi nhoẻn miệng cười: “ Dì Tư em nói rồi, biết đâu có duyên….”.
Dì Tư rổn rảng réo: “ Hai đứa bây vô ăn cơm nghen. Dì Tư mời ba má thằng Tuấn qua ăn bữa cơm tiễn tết qua đón duyên về rồi đó…”. Hai đứa nhìn nhau bật cười… Xuân về, duyên cũng về đấy ư?
Nguyễn Thị Việt Hà
P/s: Bài đã sử dụng trên Phụ Nữ Việt Nam số 15 ra ngày 3 tháng 2 năm 2012
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)