Nhà văn Lê Đình Trường giao lưu với người dân ở Đà Lạt
“ Hãy còn mưa lất phất trên mọi con đường. Trời mờ sắc xám tro. Khi đi
ngang tượng đài Hải Đăng, tôi thấy người đàn bà mất trí đang ngồi nấp
trong lùm cây - bà ta gí thanh củi vào hòn lửa thổi.
Khói bùng lên mù mịt. Hầu như đêm nào bà cũng trở về nơi đó, đốt lửa,
rồi hơ bàn tay trên ngọn khói. Bỗng, trong tôi, có một sự khát thèm đến
rồ dại không kềm giữ được - tôi dừng lại chỗ cái thân
xác như một đống lá chuối khô mục ấy. Tôi nghiêng mình xuống và bật ra
tiếng ho...
Bà ta ngẩng lên, thấy trên môi tôi có điếu thuốc chưa đốt, bà giơ
thanh củi lên. Tôi đưa bàn tay chạm nhẹ vào thanh củi, cúi mặt đốt
thuốc. Qua ánh sáng của than hồng, trong làn khói, đôi mắt
bà như đang chìm sâu đáy nước”.
( Trích truyện ngắn HƠ TAY TRÊN NGỌN KHÓI)
Tôi lại theo lối dông dài zích zắc của kẻ đang bí từ diễn đạt để kể lể
một chuyện chẳng mấy liên quan đến đoạn văn đẹp tôi vừa chép lại ở
trên. Xin đừng bảo tôi vẽ chuyện khi nói rằng khi tôi đã
thấm thía “ Một bóng thuyền không” tựa như cách ấy, tuy không lâu đến
vậy nhưng cũng phải mất một năm sau khi đã đọc nhiều lần. Để rồi chính
tôi xuôi trên một chiếc thuyền chở đầy chiếc bóng cô đơn
của từng trang truyện. Rồi rất từ từ chiêm ngưỡng vẻ đẹp của những câu
văn cẩn trọng không dành cho người đọc dễ tính của nhà văn Lê Đình
Trường.
Đó là một đứa bé tật nguyền cô độc trong giấc mơ bay lên từ đôi cánh
gẫy bẩm sinh, sản phẩm của trò đùa tạo hoá khi nó được tạo ra từ đôi vợ
chồng đẹp một cách hoàn hảo. Họ đã lao vào nhau bằng
cách cổ xưa nhất như khi E va và A đam lần đầu ăn trái cấm. Để kỉ niệm
cho sự đắm say người chồng đã “ cụ thể hoá những rung động thầm kín”
rồi nhận ra đó thật là một điều vô sỉ. Đám cháy của cây
cột khắc vết vô sỉ ấy tạo thành vòng tròn quái dị quăng người đàn ông
và người đàn bà về hai phía rồi nổi cơn thịnh nộ lên thân thể đứa bé (
Khoả thân màu xám ). Một ông nhà văn có tất cả Tình Yêu
– Văn Chương - Quyền Lực bỗng chốc trong sự hỗn mang dữ dằn nhận ra
điều đã từng tồn tại thực ra không tồn tại ( Viết cho một nhà văn ).
Thầy giáo với vỏ bọc mô phạm nhưng trầy trụa, bất lực, nổi
loạn với lớp học dị dạng, thiếu phụ trong ngôi nhà không có đàn ông
cùng hai con, cô học trò nói ngọng, thằng khùng khoả thân, ả điếm cuối
mùa son phấn… Tất cả họ, từng người một tô khít khối cô
đơn đặc quách rồi bung vỡ để đến một điểm tựa vô hình. ( Điểm tựa
trắng )… Những phận người được điêu khắc và hiện ra rõ từng nét quằn
quại, chấn thương trong cô đơn. Khi đọc xong “ Bức khoả thân
màu xám” tôi mệt mỏi, đến “ Điểm tựa trắng” thì rã rời…Một sự ám ảnh
nào đó tựa như lời nguyền. Hình nhân cô độc, bi đát đầy suy tưởng trên
một hành trình khắc khoải nhưng cũng có những câu chuyện
đầy lãng mạn. Đó là câu chuyện của vị nha sĩ già và cô gái đẹp công
tác ở xưởng cưa với vết sẹo trên cánh tay còn mảnh đạn bên trong. Truyện
diễn ra với tiết tấu chậm, đôi khi mang lại cảm giác khó
phân biệt đâu là điều đang diễn ra trong không gian truyện, đâu là
trong hồi tưởng của vị nha sĩ kia. Như cái tên của mình: “ Vẻ đẹp”,
truyện toát lên vẻ đẹp tâm hồn con người trong cảm nhận của vị
nha sĩ già. Nó lấp lánh và toàn bích. Những cơn mưa rất đẹp trong câu
chuyện mang dáng dấp tự truyện của nhà văn “ Hơ tay trên ngọn khói”. Có
rất nhiều đoạn trong truyện nếu tách ra sẽ thành truyện
rất ngắn tuyệt hay. Đó là chi tiết người thầy giáo cùng học trò dừng
chân bên tủ bán thuốc lá của cô bé nghèo nhất trong số những người bán.
Đó là chi tiết thầy giáo khát thèm ngọn khói vô ưu của
người đàn bà mất trí. Người đàn bà với thói quen không thể bỏ mỗi đêm
đốt lửa hơ tay trên ngọn khói với vẻ an nhiên đến mức như chẳng điều gì
phá vỡ được điều đó. Có lẽ, theo thiển nghĩ của tôi,
trường đoạn đó là điểm nhấn đẹp để có cái tên rất thơ cho truyện ngắn
này. Cuối cùng là chi tiết bé Quỳnh, con gái thầy giáo trao chiếc bong
bóng cho gã hủi. Nước mắt loang loáng trên gương mặt gã
khiến gã Người hơn bao giờ hết còn bé Quỳnh đẹp lộng lẫy như một thiên
sứ trong sự vui mừng xen lẫn cảm động của tôi khi đọc đến đoạn ấy. Mưa
khắp không gian truyện. Ban đầu là tiếng mưa vang động
khiến tiếng thầy giáo mờ đi và ngực như mòn ở đầu câu chuyện. Vẫn cơn
mưa ấy đổ ướt sũng cô bé nghèo bên tủ thuốc lá và nhẹ đi, lất phất rơi
rất nhân hậu với người đàn bà mất trí… Với
“Một bóng thuyền không” cuộc sống dữ dội hơn những gì ta tưởng. Câu
chuyện xoay quanh những biến động dữ dội của nhân vật “ Tôi” mà ngay từ
đầu anh ta đã dè dặt thú nhận sự ‘ dị tật tâm hồn’ và
khát khao được bay nhảy thoát kiếp quẩn quanh. Anh ta chính thức đào
tẩu khỏi khuôn phép nhàm chán của một công chức hoàn toàn vô thức đi
theo tiếng gọi của bản năng với Hường, một phụ nữ goá chồng
sống trên chiếc thuyền nhỏ. Trường đoạn cưỡng cơn sóng dữ cũng lại
trong một cơn mưa lớn. Có vài trường đoạn sex. Không giống như các
truyện ngắn của các cây viết trẻ bây giờ, sex phơi bày sự phồn
thực, bản năng thậm chí nhớm nhúa hoặc cải lương quá mức. Sex trong “
Một bóng thuyền không” được môt tả một cách tinh tế, kín đáo, đầy sức
mạnh qua ngôn ngữ được chọn lọc mang tính hàn lâm. Nhân
vật Tôi ngộ ra rất nhiều điều từ chiếc thuyền nhỏ bé của người đàn bà
goá kia. Thân phận con người trên sông nước, tự do và tù túng, tình dục
và cô đơn, bình yên và bất an, khát thèm và nhàm chán…
Tất cả đều sóng đôi tồn tại trong cùng một tâm hồn đã tự nhận mình dị
tật. Từ chỗ thu động, chậm chạp với sông nước anh ta trở nên sung mãn và
bản lĩnh. Đến mùi của thân thể là mùi của thuốc lá,
muối biển, phù sa và mùi của thú hoang. Cuộc cách mạng nào cũng đến
hồi thoái trào, khát khao cách đây không lâu của Tôi muốn thoát khỏi bậc
đàn anh, một người thầy cai quản anh ta từ khi 15 tuổi
để đến thế giới bên ngoài tự dưng như bọt sóng mà dần tan mất. Sự
quyến rũ từ thân thể ngồn ngộn sức sống của Hường không còn đủ sức níu
giữ một người đang âm thầm tìm kiếm con đường trở về. Từ
giấc mơ về những cơn say của cốc bia đường phố, đến những điều quàng
xiên như từ kiếp trước đều mang màu sắc thị thành thì Tôi đã thực sự trở
về xuât phát điểm đầu tiên trước khi gặp Hường.
Có điều mọi sự cảm nhận về Hường của Tôi đã khác xưa. Và rồi Hường
đưa anh ta trở về “ ngồi trên một tảng xi măng, mặt hướng về dòng sông.
Sau lưng tôi oà lên ánh sáng đèn điện, tiếng
động xe cộ bừng lên, vun vút…”. Một bóng thuyền không chông chênh trên
sông. Có lẽ anh ta sẽ nghĩ: ‘ Hết rồi, đứng dậy, đi đi thôi…”.
Vậy là từ “ Bức khoả thân màu xám” cho đến “ Một bóng thuyền
không”... ta nhận thấy nhiều nhân vật trong tác phẩm của họ đã phải sống
trong một tâm trạng cô đơn khủng khiếp. Họ đều là những
sinh linh cô độc, họ khép mình trước thế giới, tự dựng nên những hàng
rào tâm lý, tự buộc mình cách ly với cộng đồng, luẩn quẩn trong những ẩn
ức bí ẩn không dễ gì giải tỏa. Một nỗi bất an ngấm
ngầm nào đó luôn tồn tại. Những lời kể lể dài dòng ở phần đầu bài viết
này về “ Trăm năm cô đơn” chỉ muốn lý giải cho những cảm xúc ban đầu
của tôi về “ Một bóng thuyền không” để rồi đúng một năm
sau, khi cầm trên tay tập truyện được trình bày rất đẹp, tôi lại ngộ
ra những vẻ đẹp khác từ những trang văn của anh.
Như tôi đã nói, hết sức cảm tính theo cá nhân tôi, văn chương Lê Đình
Trường không dành cho những người có quá ít thời gian để đọc. Anh buộc
người đọc phải đọc thật chậm bằng lối viết cẩn trọng như
nghệ nhân uốn cây cảnh, buộc người ta phải nhíu mày suy nghĩ để rồi
chiêm nghiệm ra một điều gì đó. Anh viết với thái độ nghiêm cẩn như lối
trò chuyện nhỏ nhẹ, chừng mực, tế nhị hàng ngày của
mình. Văn chương anh đẹp, vẻ đẹp của phương diện thể hiện, tình tiết,
nội dung, cấu tứ. Vẻ đẹp ấy lặng lẽ nhưng bền vững và sắc nét tựa như
anh đang khắc từng nét chữ của mình. Viết là một đam mê
nhân văn, là sống - với đời và khát vọng cải thiện cuộc đời này cho
hoàn hảo hơn. Lê Đình Trường đơn giản hơn khi nói: “ Nghề văn cho tôi
sống thật trọn vẹn với nội tâm của chính mình, cho tôi thấu
hiểu và chia sẻ đời sống tha nhân”.
Tôi không đủ khả năng làm công việc của một nhà phê bình chỉ là những
cảm nhận của một người đọc bình thường như bao nhiêu người đọc khác. Có
lẽ tôi cũng đang đi về phía mưa, lạnh và cô đơn để khát
thèm ngọn khói ấm áp của người đàn bà điên kia, an nhiên và hạnh phúc,
hạnh phúc trong thế giới vô ưu của mình.
Nguyễn Thị Việt Hà
P/s: Bài đã xuất bản trên tạp chí Văn Nghệ Cà Mau
Nguyễn Thị Việt Hà
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét