BÌNH MINH TRÊN BẾN NINH KIỀU
Bút kí : Nguyễn Thị Việt Hà
( Tặng Cần Thơ và những anh, chị, bạn bè đang sống trên mảnh đấy giàu đẹp ấy! Tặng Võ Thụy Như Phương - một người cũ của Cần Thơ như một lời khẳng định niềng cũng hiểu - yêu Cần Thơ lắm chứ bộ!)
Xuôi dòng Cần Thơ, về Kinh Xáng Xà No, Giồng Riềng, Miệt Thứ. Bạn gọi điện rưng rưng hỏi thăm con rạch Cái Thia, về hoa tím bằng lăng, về con sông Tắc Cậu… Không nỡ trả lời với bạn rằng ‘con rạch Cái Thia chảy về Tắc Cậu" đã bị con người khai tử, đành nhờ con rạch Cái Thia ở Hậu Giang, Tiền Giang mang dòng chảy tình cảm đổ về tận xứ biển Tây. Dòng nước ngầu đục phù sa, lặng lờ đưa đẩy những khóm lục bình trôi về trăm ngả…
Tôi, một một người không “ rặt” miền Tây đã yêu miền Tây bằng tình yêu của người bản xứ, yêu cây bần trái chua chát hăng hắc, vị của cực nhọc miền châu thổ, yêu từng khóm dừa nước kết thành rừng ven bờ kinh rạch, yêu những chuyến phà miệt mài qua sông, yêu chiếc ghe của khách thương hồ chập chùng con sóng bạc, vén rừng đại ngàn thao thiết mong chờ một cuộc sống đủ đầy.
Dừng chân bên bến Ninh Kiều, tôi chọn căn phòng trong khách sạn bên sông, từ phía hành lang tôi có thể trông thấy cả dòng sông Hậu bát ngát, những chiếc đò chèo đưa rước khách lướt nhẹ như sương như khói trên mặt sông trữ tình, xóm Chài trù phú ở bãi bồi bên kia sông nhấp nhô những mái nhà xen trong rặng cây soi bóng dưới dòng nước hiền hoà nặng đỏ phù sa, phía xa xa cầu Cần Thơ kiêu hãnh lộng lẫy. Người xưa kể rằng: những cư dân người Việt mở cõi đất Phương Nam đã lấy các tên của trận đánh nổi tiếng trong “ Bình Ngô Đại Cáo” của Nguyễn Trãi để đặt tên cho vùng đất mới bên bờ sông Hậu. Bến Ninh Kiều còn có tên là bến Hàng Dương. Bến Hàng Dương ngày ấy tấp nập thuyền bè qua lại giao thương, hàng cây dương chắn gió ven bờ đã thành tên gọi bến. Năm 1957 khi làm Tỉnh trưởng Phong Dinh thời Đệ nhất Cộng Hoà, ông Đỗ Văn Chước đã cho lập nơi bến sông này một công viên rất đẹp. Khoảng sau năm 1958, bến Hàng Dương chính thức đổi tên thành bến Ninh Kiều. Có lẽ tên thành phố Cần Thơ cũng xuất phát từ bến sông này. Tại Ninh Kiều vào những đêm trăng sáng, thuyền bè tấp nập qua lại trên sông, khách tài tử, giai nhân đất Tây Đô thường cùng nhau lĩnh xướng thơ ca. Do vậy, bến còn có tên gọi là Cầm Thi, và chính tên gọi Cầm Thi được gọi trại ra thành tên của đất Cần Thơ bây giờ.
Cần Thơ mùa thu không có nắng mai dịu dàng, không có gió heo may tháng tám nhưng vẫn đủ sức níu thương nhân muôn nẻo tìm về, những bước chân lãng du tìm bến bình yên, khách văn chương luyến lưu bịn rịn… Và tôi, khách tha hương tìm chút lắng đọng trong một ngày lặng gió
Bao nhiêu năm thăng trầm lịch sử, dòng Cầm Thi vẫn dịu dàng một khúc thơ, thâm trầm sâu lắng. Bến Phù Sa nặng lòng xuôi chảy làm nên “ gạo trắng nước trong”. Đặt chân đến bờ Bình Thủy, tôi tạm quên va quyệt cuộc sống để hồn thanh thản theo tiếng chuông rung nơi Nam Nhã Phật Đường cách trung tâm thành phố 5km về phía Bắc thuộc phường An Thới. Nam Nhã Phật Đường thấm đấm máu hùng anh của sĩ phu, văn thân yêu nước trong cuộc cách mạng nhân dân Cần Thơ trong thời kì chống thực dân Pháp. Cồn Bình Thủy nằm giữa dòng sông Hậu cuồn cuộn chảy theo những lớp sóng bạc đầu.
Buổi bình minh châu thổ, thong thả bềnh bồng trên xuồng chèo giữa ban mai trong lành. Gió sớm mang hương phù sa, hồn châu thổ, xôn xao nhộn nhịp chợ nổi Cái Răng. Điều thú vị của chợ nổi là tất cả mọi thỏa thuận mua bán đều diễn ra ngay trên mặt nước nhưng mặt hàng phong phú và không khí sầm uất không hề kém những khu chợ lớn trên cạn. Chừng 6h sáng, hàng trăm ghe thuyền lớn bé đã đậu san sát nhau. Dân buôn bán miền sông nước có hình thức PR rất độc đáo, họ cắm trước mui xuồng cây “ bẹo” những sản phẩm mang thương hiệu đồng bằng. Cứ nhìn vào cây bẹo mà chọn mua những thức mình cần. Khoảng 7 giờ sáng chợ nổi Cái Răng sôi động nhất, cả khu chợ như phình to ra cả lòng sông. Âm thanh cuộc sống nhiệt tình sôi nổi: tiếng rao lảnh lót của nàng thôn nữ, tiếng rao vỡ sóng gió của khách thương hồ, tiếng rao như ru của các mẹ, các chị…hòa lẫn vào tiếng máy nổ, tiếng chèo động nước, tiếng sóng xô mạn thuyền, tiếng cười nói, mặc cả của người mua lẫn người bán… Chợ nổi đầy sức sống, nhiệt tình, ồn ào, phóng khoáng tựa như tính cách của người vùng sông nước. Anh thanh niên lái xuồng đưa tôi len lỏi rất “ có nghề” vào những khe hở của thuyền buôn bán, xuồng áp xuồng, ghe áp ghe nhưng không thấy có cảnh chen lấn mà tất cả đều chan hòa, nhường nhịn nhau. Tôi bấm máy ảnh liên tục, thằng bé bán bánh bao toét miệng cười khoe răng sún gọi to: “ Cô nhà báo ơi, chụp con nhiều nhiều nghen, cho con lên báo nghen, con “ khuyến mại’ cho cô cái bánh bao”. Nhoẻn miệng cười bởi đề nghị dễ thương của thằng bé, tôi chụp rất nhiều hình, tự hứa sớm mai trở lại đưa cho nó mấy bôi hình đã rửa để làm kỉ niệm.
Chừng 9h chợ vãn, tôi xuôi trên bến Ninh Kiều bỗng nhớ đôi câu thơ của nhà thơ Huỳnh Kim viết về chợ nổi Cái Răng:
“Chợ đã nổi từ nửa đêm về sáng
Ta vẫn chìm từ giữa bữa hoàng hôn.
Em treo bẹo Cái Răng Ba Láng
Ta thương hồ Vàm Xáng Cần Thơ…”
“ Ta vẫn chìm từ giữa bữa hoàng hôn” nghe nao lòng xao xác những heo may… Kẻ “ một chốn bốn quê” như tôi nhiều lần ngậm ngùi chẳng biết nơi đâu là chốn quê nhà, mỗi lần xách va ly chuẩn bị cho một hành trình mới cứ nao nức không biết nên gọi là đi hay về... Nơi chôn nhau cắt rốn của mỗi người chính là quê hương trong trí nhớ. “ Người ta có thể tách bước rời khỏi quê hương nhưng không thể tách rời con tim khỏi quê hương được” ( Kiên Giang)…Tôi đang ở giữa Tây Đô mà nhớ Tây Đô cũng có nghĩa là có một quê hương trong trí nhớ tôi dù tôi chẳng chôn nhau cắt rốn ở nơi này…Ghé miệt vườn Phụng Hiệp, qua Lộ Vòng Cung, tôi tránh xa cái mê mải phố thị, tránh hương người lẫn với mùi khói bụi trong thành phố. Bâng khuâng lẫn mình trong màu xanh cây lá của ruộng vườn, một cảm giác yên bình ôm ấp lấy tôi. “ Sông Phụng Hiệp chảy ra bảy ngã”, vùng sông nước độc đáo không chỉ ở khu vực Đồng bằng sông Cửu Long mà còn là nét độc đáo của cả nước bởi nơi đây 7 nhánh sông hội tụ: Xẻo Môn, Xẻo Đông, Mang Cá, Bún Tàu, Lái Hiếu, Cái Côn và Kênh Sáng. Chợ nổi Ngã Bảy đầy đủ sản phẩm của “ miệt trên, miệt dưới”, xa xa vọng lại trong sương sớm tiếng ca thiết tha của cô thôn nữ “ Ghe chiếu Cà Mau cắm sào trên bờ kinh Ngã Bảy/ Sao cô gái năm xưa chẳng thấy ra chào…” mà nhớ đệ nhất danh ca Út Trà Ôn trong bài “ Tình anh bán chiếu” của soạn giả Viễn Châu nổi tiếng từ những năm 60 đến tận giờ…Cô thôn nữ vươn ngực đón nắng, tay đưa chèo nhịp nhàng trên sóng dập dềnh tạo nên nét thơ mộng trong cảnh sôi động, eo sèo chợ nổi. Trong bát ngát đồng bưng bóng cô hút xa dần, tiếng ca cũng hút xa dần còn tôi dõi mắt nhìn theo cô mãi…
Nghe kể một ngàn năm trước sông Tiền cao hơn sông Hậu, đôi dòng gặp nhau cuối vàm Năng Gù rồi lại tách ra thành Hồng Ngự, Tân Hồng…Cần Thơ êm đềm nằm bên bờ Nam sông Hậu, phía bờ Bắc là tỉnh Vĩnh Long. Nối đôi bờ Nam – Bắc là những chuyến Phà. Bến phà này có lịch sử lâu đời nhất Việt Nam ra đời vào khoảng năm 1915 khi thực dân Pháp bắt đầu cho xây dựng bến phà cùng với việc nâng cấp một số tuyến lộ đi Sóc Trăng, Minh Hải cũ…Phục vụ cho việc đẩy mạnh khai thác thuộc địa đặc biệt là các tỉnh miền Tây. Khi cây cầu dây văng lộng lẫy sáng rực thay thế những chuyến phà được khánh thành trong niềm vui òa vỡ của nhân dân hai bên bờ sông Hậu trong tôi lại có chút gì tiếc nuối, phân vân tự hỏi: “ Rồi những con phà cũ sẽ về đâu…?”. Mờ tối, tôi đứng bên này sông, nơi bến phà cũ chỉ còn là dấu tích nhìn con thuyền cùng người lái đò chỉ trông thấy bóng mà không biết là nam hay nữ lẫn trong nhập nhoạng tối phủ đầy mặt sông… Phía xa xa cầu Cần Thơ lộng lẫy nhưng ánh sáng không hắt bóng đến tận bến phà chưa kịp cũ đã thành quá vãng.
Người ta bảo về Cần Thơ mà không nghe vọng cổ thì chưa biết Cần Thơ. Vọng cổ là một nét văn hóa đặc sắc của Tây Nam Bộ, xuất xứ từ tên “cầm, thi, giang” (đàn, thơ, sông). Anh chạy xe lôi thùng nhiệt tình hồ hởi khi tôi hỏi thăm đến quán đờn ca tài tử, anh giới thiệu quán 112 (đại lộ Trần Phú, trước đoàn nghệ thuật Quân khu 9) chủ quán từng là nghệ sĩ đoàn Quân khu 9., Sân khấu giản dị, bàn ghế đơn sơ, sự thân thiện làm ấm lòng du khách đường xa.Tiếng ghi-ta phím lõm, cùng đàn nguyệt, đàn bầu, đàn cò khi réo rắt, lúc khoan lơi nâng câu ca cổ tha thiết trải dài trên triền sông nước... Tôi trở về khách sạn khi trời đã chạm vào khuya.
Trằn trọc không ngủ được, lại cất bước ra bến Ninh Kiều. Trong nhộn nhịp người qua lại của một khu du lịch trung tâm thành phố vẫn còn bao phận người nhọc nhằn mưu sinh trên sóng nước Ninh Kiều. Tôi chú ý đến một bà lão ngồi khiêm tốn ở một góc công viên. Bà đã già lắm nhưng đôi tay vẫn thoăn thoắt khéo léo tết những con hạc làm bằng lá dừa. Lạ một điều, khách của bà lão rất nhiều nhưng không ồn ào, tất cả chăm chú nhìn theo đôi tay nhăn nheo trổ đồi mồi tết hạc. Tất cả đều say sưa ngắm nhìn rồi mua hết số hạc bà lão tết được. Bà lão vừa nhận tiền vừa cười, khuôn mặt nhầu nhĩ vết tháng năm sáng lên dưới ánh đèn hắt lên từ chiếc du thuyền sang trọng bởi nụ cười hiền lành của bà lão…
Bến Ninh Kiều gần như không ngủ, tôi hỏi một chị bán hột vịt lộn trên sông có bao nhiêu người trên bến sống trên sông nước, chị bảo: “ Hơn 40 người đó lận cô. Mà cực dữ lắm, chỉ đủ gạo ăn, có ngày không được lên bờ, mưa thì ngủ dưới dạ cầu…”. Chị ngậm ngùi đưa ống tay quyệt nước mắt chỉ vô mui xuồng: “ Cô coi… Mấy đứa nhỏ của tui không có đứa nào đi học. Đứa bán gương sen, sơ ri, thuốc lá; đứa bán vé số. Ba tụi nó chết từ cái hồi sập nhịp dẫn cầu Cần Thơ…”. Chị lặng đi rồi rất nhanh lại rổn rảng: “ Tụi tui sống cực vậy chớ thiệt dạ lắm cô ơi. Không ai lợi dụng khách phương xa chém giá đâu cô.”. Tôi mua cho chị chục hột vịt lộn rồi bước ra về trong cái ngậm ngùi lan sang từ chị. Xóm chài bên kia bờ phù sa yên ắng… Bến Ninh Kiều bên này não nuột những câu chuyện kể của những phận nghèo nhưng chân thật như moi hết ruột gan của mình ra mà sống. Từng dòng người vẫn qua lại với là lượt áo quần, với mong muốn tìm một nơi nghỉ ngơi thư giãn vẫn thong thả tản bộ trong đêm miền Tây trong lành sâu thẳm.
Tôi chìm trong giấc ngủ, giấc mơ tôi có nụ cười thằng bé bán bánh bao, giọt nước mắt của chị bán hột vịt lộn và lấp lánh ánh đèn trên cầu Cần Thơ…
Khi tôi thức giấc, những sợi nắng đầu ngày vừa chạm vào khung cửa. Dòng sông trước mặt xôn xao nhộn nhịp thuyền bè qua lại. Sáng Cần Thơ mát dịu, nhận lời bạn uống café công viên. Quán đơn sơ, vài chiếc bàn kê dưới tàn cây trứng cá nhưng rất đông khách. Bạn bảo “Gu cafe” của dân Cần Thơ là cà phê phải sủi bọt lên miệng tách. Cô chủ quán giọng ngọt như mía Phụng Hiệp nâng bình café thật cao rồi rót xuống ly, dòng café đen sánh chảy mạnh xuống đáy tách xô vào nhau tạo nên những lớp bọt trên bề mặt ly, đó là với cafe đen. Còn café đá, phải quấy mạnh sôi bọt sau đó mới cho đá vào…Trong một góc yên tĩnh, tôi và bạn ngắm phố phường, chợt nhận ra cậu bé bán bánh bao hôm trước bên chợ nổi Cái Răng, tôi với gọi theo. Chú bé cũng nhận ra tôi, nhận tấm hình, chú cười toét miệng, cám ơn rối rít. Chú chạy đi một đoạn rồi quay trở lại tặng tôi chiếc bánh bao kèm theo lời đề nghị: “ Cô cho con lên báo nghen, con khoái lên báo lắm”. Chú bé chạy đi rồi còn bỏ lại nụ cười giòn vỡ hồn nhiên…
Cần Thơ đang mùa mênh mang sóng nước, rạng ngời trong ánh ban mai. Dù vẫn còn vất vả, lo toan trong cuộc sống thường ngày thì tiếng ca vẫn vút lên từ bến Ninh Kiều, dòng Cầm Thi vẫn mang nặng phù sa đắp bồi hai bên bờ bồi lỡ.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét