Tôi với anh yêu anh từ độ cuối thu. Lúc tiết trời đỏng đảnh như cô gái
mới dậy thì: mới trưa còn nắng như trút lửa, cuối chiều đã lành lạnh
heo may.
Nơi tôi ở là một xã nghèo miền biển. Nơi đất rộng, người thưa,
đất đai bị mổ xẻ dọc ngang, người ta đang tìm cơ hội làm giàu để thoát
khỏi cái cảnh vừa thiếu
đói vừa thiếu nợ ngân hàng.Túng quẫn và bần hàn nên xóm tôi hay có
những cuộc cãi vã chẳng rõ nguyên do.
Tôi là một công chức nhà nước bình thường. Tôi yêu nghề bằng
cái cách 8 tiếng làm việc cật lực nơi công sở đến toát mồ hôi hột, rồi
hỉ hả riêng mình vì đã có
một ngày làm việc có ích, hỉ hả vì trong ngày mình vui vẻ không bất an
vì một điều gì.
Sự hẻo lánh, lạc hậu, tù túng dễ dẫn đến cho con người ta bực bội
rồi sinh lòng đố kị nhưng tận sâu thẳm tâm hồn mỗi con người luôn chất
chứa những nỗi niềm riêng và họ dễ
dàng tha thứ cho nhau để rồi sẵn sàng bảo bọc nhau mỗi khi hoạn nạn.
Tôi thường bàn quan trước những cuộc cãi vã của đồng nghiệp nhưng để
khỏi bị cho là “ chảnh” tôi lại tỏ ra là một người tích
cực, dốc lòng can ngăn, dàn hoà cho “ Sự nghiệp đoàn kết” chung, rốt
cuộc tôi lại tự thấy mình vô duyên tệ. Cơ quan của tôi có vài cô gái gần
đến tuổi “ băm”, nói theo các cụ là “ quá lứa lỡ
thì” hay lục đục nhau. Tôi nhận ra trong cái vẽ tỏ ra kiêu kì của họ
là lòng khao khát yêu thương. Sự khao khát ấy bị nhốt trong không gian
nhỏ hẹp, một nơi dường như biệt lập cách xa thị trấn đến
gần 20km, một nơi người ta vẫn gọi là “ Năm Không” thì những chuyện ấy
xẩy ra cũng chẳng có gì là lạ..
Tôi cũng có những nỗi buồn. Tôi rất hay thẩn thơ buồn là đằng
khác. Đồng nghiệp tôi khi buồn họ thường rủ nhau bao một chiếc xuồng ra
thị trấn uống bia và hát
karaoke inh ỏi. Những lúc ấy họ thường rất chân thành, mọi va chạm nhỏ
nhặt thường ngày như chưa từng xẩy ra. Một thoáng chốc “ giải ngố” ở
thị trấn khiến họ vơi đi ít nhiều nỗi niềm dồn nén bao
ngày. Còn tôi, tôi thường không giả quyết nỗi buồn bằng cách ấy. Tôi
không uống được bia. Chỉ vài giọt đã say chếnh choáng và thế nào tôi
cũng sẽ khóc váng lên mà chính tôi cũng không rõ vì sao
mình lại khóc và khi tỉnh dậy nghe kể lại, thế nào tôi cũng mắc cỡ đến
năm, bẩy ngày chưa thôi. Biết thế nên tôi tách mình ra khỏi những cuộc “
giả ngố” ở ngoài thị trấn, tôi tha thẩn lội men
theo con đường bên các dòng kênh. Chân trần đạp trên cỏ vô danh, miệng
thầm thì gọi tên anh, tay bứt hoa dại ven đường, rồi ngồi lại bên dòng
kênh hiền hoà nghe gió lùa tóc rối. Con kênh gần trường
tôi có cái tên nghe cũng buồn buồn : kênh Cùng. Sau đó tôi trở về nhà,
bình tâm hơn và lao vào 1001 chuyện không tên trong nhà để quên buồn.
Khi buồn, tôi thường nghĩ đến anh, tưởng tượng có anh
trước mặt để luyên thuyên với anh mọi chuyện. Đôi lúc có người bắt gặp
tưởng tôi mộng du cứ ra sức khuyên tôi đi điều trị cho sớm để nhanh
khỏi bệnh. Tôi cười khì gật đầu lia lịa tán thành cho qua
chuyện. Chỉ có tôi mới rõ, tôi không mộng du, chỉ vì tôi nhớ anh quá
mà thôi.
Mẹ sinh tôi ra vào cuối tháng 4, giữa cơn mưa tầm tã. Mẹ kể: “
Suýt nữa bé Cún bị đẻ rơi”. Hồi nhỏ tôi rất dễ nuôi chỉ phải cái tội quá
lí lắc, nghịch ngợm. Mẹ chưa bao giờ
đánh tôi cả, lần nào tôi phạm lỗi mẹ chỉ ôm tôi thật chặt, mắt ngấn
nước bảo : “ Có mình mẹ nuôi chị em con. Con phải biết làm gương cho hai
em nữa chứ Cún.”. Bé tí tuổi đầu thôi, tôi đã biết lau
nước mắt cho mẹ và hiểu mình phải làm gì cho mẹ không khóc.
*
*
*
Tôi yêu anh từ độ cuối thu. Lúc tâm hồn tôi hồn nhiên như cỏ non
mùa xuân. Tâm hồn của một cô gái chưa tròn 16 tuổi đã biết mơ những giấc
mơ về hoàng tử. Lần đầu tôi gặp
anh, anh mặc chiếc áo màu xanh, tóc anh mềm và bồng bềnh. Anh nhoẻn
miệng cười khi bắt gặp tôi vừa làm bánh đa quế giúp mẹ vừa học bài. Anh
gọi : “ Bé ơi, cháy bánh bây giờ”. Tôi ngước lên nhìn
anh. Trời ơi, thiên sứ! Tôi lọt thỏm vào đôi mắt sáng trong chứa cả
một trời mộng mơ ấy để rồi gần 20 năm sau tôi vẫn không thể thoát ra
được.
Anh gọi mẹ tôi bằng cô và gọi tôi bằng “ bé”. “ Bé” học rất giỏi
Văn nhưng rất “ mít” Toán nên anh nhọc công giúp “ bé” học Toán. Nhà
anh ở cuối làng, nhà tôi ở đầu
xóm. Anh hay mang những quả khế mọng vàng, những quả bưởi đào cho “
bé”. Thỉnh thoảng anh chở “ bé” trên chiếc xe đạp Trung Quốc đi ăn kem
bờ hồ. Lần nào bên anh tim tôi cũng đập chộn rộn. Tôi vụng
về như học sinh không thuộc bài bị cô giáo gọi lên bảng. Tôi ra sức
chống chế, trấn tĩnh bằng những câu chuyện luyên thuyên về ước mơ sau
này tôi sẽ là một luật sư thật giỏi. Anh hay nghiêng đầu
chăm chú lắng nghe, thỉnh thoảng lại mỉm cười, nụ cười làm tim tôi
muốn ngừng đập.
Tôi qua cái tuổi mười lăm, rồi mười sáu tuổi. Mùa đông anh
thường hay mang cho “ bé” những bắp ngô luộc nóng hổi và tẩn mẩn nặn bột
cho “ bé” làm bánh đa quế
giúp mẹ cho nhanh để học bài. Mùa đông, anh thường chở “ bé” thật
nhanh qua triền đê lộng gió để đến trường. Mùa đông năm ấy lạnh lắm, môi
tôi tím đi vì lạnh, anh choàng cả chiếc khăn lên rất
dày lên cổ tôi vẫn không đủ ấm. Anh xoa xoa hai tay vào nhau áp lên má
tôi để tôi bớt lạnh. Bỗng dưng anh chăm chú nhìn tôi rồi bảo: “ Giá mà
bé lớn thêm chút nữa nhất định chú sẽ ôm bé như người
yêu người ta ôm nhau đấy. Lạnh thế này…”. Nói rồi cả anh và tôi đều
bật cười. Nhưng lúc ấy, kì lạ lắm, tôi thấy lạnh lẽo tan đi đâu mất, tôi
thấy rất ấm, dường như có ánh nắng rất dịu dàng trong
anh toả sang tôi, trong tôi như có mùa xuân, hồn tôi đã trổ những bông
hoa li ti thay cho đám cỏ mùa xuân hồn nhiên dạo nọ. Tôi luyến nhớ anh
từ hồi nào chẳng rõ. Từ khi gặp anh mặc chiếc áo màu
xanh vào chiều mùa hạ ấy hay một sáng mùa đông anh áp hai bàn tay ấm
áp của anh lên má tôi.
Mẹ chuyển vào Miền Nam xa xôi, tôi ở lại học hết học kì 1 lớp
10. Thế rồi cũng đến lúc tôi xa anh. Lúc tôi vừa bước sang cái tuổi mười
bẩy, lúc tôi vừa kịp lớn
để biết trái tim mình rung động bởi anh. Năm ấy cũng vào một mùa
đông…Anh lặng im ngồi nhìn tôi ăn kem ốc quế. Trời tê tái lạnh nhưng tôi
vẫn muốn ăn kem ốc quế. Anh hỏi :
- “ Bé còn muốn anh mang gì cho bé nữa không?”.
- “ Bằng lăng, hoa bằng lăng trái mùa anh tìm được không?”
- “ Được. Bé ngồi yên đây chờ anh”
Tôi ngồi yên trên sân ga chờ anh và suýt bật khóc khi người ta
nói trên loa sắp tới giờ soát vé mà anh chưa trở lại. Nhưng anh đã trở
lại và trên tay ôm một bó bằng
lăng trổ muộn. Bằng lăng trổ muộn tím đến nao lòng. Cuối mùa hạ hoa đã
tàn hết nhưng anh đã tìm được hoa Bằng lăng trái mùa vào mùa đông trên
con đường đẹp nhất Hà Nội mang tên Hoàng Diệu. Trời rét
căm căm nhưng trên trán anh lấm tấm mồ hôi. Tiếng còi giục giã, xé
lòng. Anh xiết chặt tay tôi, đôi mắt ngấn nước”
-“ Bé đi mạnh khoẻ. Nhớ viết thư cho anh”
-“ Không, em sắp mười bảy tuổi, em không còn bé nữa”. Tôi nghẹn ngào.
- “ Ừ, em không còn bé nữa. Vậy anh ôm em được không?. Ôm như người ta yêu nhau ấy?”.
Nhưng anh đứng lặng đó, tôi đứng lặng đó như tượng đá. Muốn lao
vào anh mà chân như chôn chặt…Anh chỉ kịp chạy theo và hét lồng lộng
giữa sân ga khi tàu chuyển bánh:
- “Em nhớ học giỏi. Sẽ là luật sư nhé! Anh sẽ tìm em”
*
*
*
Anh chỉ dặn tôi học giỏi mai này làm luật sư, không dặn tôi phải nhớ anh nhưng tôi đã nhớ anh đến thế này…
Bao nhiêu năm trôi qua. Chúng tôi đã đi tìm nhau, đã yêu nhau
trong bao cách trở. Những cánh thư màu mực tím vẫn đều đặn gởi trao.
Nhưng con thuyền tình
yêu đã không bến đỗ. Chẳng phải vì tình yêu chúng tôi không đủ nồng
nàn, càng chẳng phải một trong hai người đã bớt yêu nhau…Thế nhưng mãi
mãi chiều đông trên sân ga ấy vẫn còn trong tôi một hối
tiếc rằng tôi đã không choàng ôm lấy anh thật chặt để cho đến bây giờ
tôi vẫn ngẩn ngơ đi tìm hơi ấm ấy. Chúng tôi đã đi tìm nhau trong chừng
ấy năm để rồi tôi đã lạc trong biển người mênh mông này
mãi mãi. Để rồi tôi lạc bước rẽ trái đi về phía không anh.
Đêm trăn trở, tôi nhớ quay quắt sắc tím của hoa Bằng lăng trổ
muộn vào mùa đông năm ấy. Hoa trái mùa nên tím đến nhức nhối, nhói lòng.
Tôi nhớ cồn cào con đường đầy bụi đỏ
anh chở tôi đi. Tôi thổn thức nhớ cái rét cắt da cắt thịt mùa đông
Miền Bắc. Mà không, hình như tôi không nhớ những thứ ấy nhiều đến thế.
Tôi đã nhớ mọi thứ có liên quan đến anh. Tôi đã trốn nỗi
nhớ anh mà nỗi nhớ cừ cồn cào cháy bỏng.
*
*
*
Tôi có một câu chuyện chỉ có thể viết vào lúc giữa khuya khi tất
cả mọi người đã thảnh thơi ngã mình trong chăn êm nệm ấm, khi tất cả đã
lắng dịu trả lai vẻ bí mật
cho màn đêm, khi mọi bon chen, đố kị hay bao dung , hoan hỉ đều trở
thành vô nghĩa chỉ có giấc ngủ cùng những cơn mơ…Còn tôi, tôi ngồi đây,
viết nhằng nhịt cho qua đêm, một máy tính, một tâm hồn
trắc ẩn cùng màn đêm làm bạn.
Chúng tôi yêu nhau. Chuyện tình tôi cũng như bao chuyện tình
trên thế gian này: đầy nhung nhớ và khát khao được là của nhau. Tôi nghe
được cả nhịp tim mình đang
rung lên thổn thức. Chuyện tình tôi được kể không đầu không cuối trong
khát khao vỡ vụn, trong nước mắt đông đầy mà chẳng khi nào thành giọt
để rơi ra, trong nỗi nhớ anh cồn cào, quay quắt…
Mỗi ngày, trên mảnh đất nghèo đi vì chuyển dịch cơ cấu kinh tế
không thành công nhưng thấm đượm nghĩa tình và cũng chất chứa bao nỗi
niềm riêng ẩn của mỗi con người
này, tôi vẫn yêu nghề theo cái cách làm việc cật lực trên công sở và
tìm 1001 việc không tên trong nhà để làm nhưng tôi vẫn không quên rằng
tôi nhớ anh. Để mỗi khi buồn tôi không cùng đồng nghiệp
bao đò ra thị trấn “ giải ngố” mà tưởng tượng có anh trước mặt để hàn
huyên mọi chuyện trên đời. Ai đó vô tình bắt gặp sẽ vẫn bảo là tôi bị
mộng du chỉ có tôi mới biết ràng rằng : Giá mà tôi bị
mộng du thì có lẽ sẽ tốt hơn cho tôi.
Tôi yêu anh và độ cuối thu. Anh hẳn rằng cũng yêu tôi tha thiết…Nhưng tôi đã rẽ trái và lạc mất anh…Lạc mất anh…
Nguyễn Thị Việt Hà.Tài
hoa trẻ số
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét