Ảnh Việt Hà

Ảnh Việt Hà
Ta về trồng cỏ dại đầy sân...

Thứ Tư, 1 tháng 8, 2012

Vượt sóng bạc, bám biển vàng…

Ông Tư Minh đứng lặng ngắm bình minh cửa biển. Biển mênh mông, ngút ngát, chỉ có nước nối liền trời mây và mặt trời đỏ thẫm đội sóng nhô lên chào ngày mới. Gần hết đời người, ông theo nghiệp cha truyền con nối cưỡi sóng, vượt gió trên những chuyến tàu ra khơi đánh cá. Đời ngư phủ lênh đênh ăn sóng nói gió, muối mặn trắng lưng áo, nhuộm cứng mái tóc, thức ngủ, vui buồn, no đói cùng biển dường như hằn in từng nếp thời gian trên gương mặt ông - một trong những ngư dân đầu tiên ở Làng cá Cái Đôi Vàm (huyện Phú Tân), để rồi một đời bám biển vẫn luôn khát khao làm giàu cho bản thân, cho quê hương trên biển Tổ quốc mình. 
"Ngư phủ bất bại” Lưu Văn Minh
NEO THUYỀN LẬP LÀNG CÁ   
   Năm 1977, chàng ngư phủ trẻ tuổi Lưu Văn Minh cùng đoàn thuyền 15 chiếc từ Trà Vinh xuôi dòng Cổ Chiên tìm vùng đất mới neo thuyền lập nghiệp. Dòng Cà Mau xanh mênh mông như huyền thoại hiện ra trước mắt. Đoàn thuyền hăm hở thẳng tiến rồi mắc kẹt ở một cửa biển nhỏ tiếp giáp giữa biển Đông và biển Tây. Không thể xoay trở được, đành phải đi tiếp để tìm hướng quay đầu cho đoàn thuyền. Đêm biển lặng, thả đáy hàng khơi tìm nguồn dự trữ tôm, cá cho chuyến đi dài sắp tới. Ngủ chưa tròn giấc thì cả đoàn thuyền không thể nhúc nhích được. “Mắc cạn rồi", anh Hai Beo la lớn. Bên thuyền, các anh Sáu Lực, Lâm Văn Đằng, Sáu Chắt, Nguyễn Văn Ráo xôn xao, lo lắng… Bỗng nghe tiếng reo hò từ thuyền của ngư phủ Lưu Văn Minh: “Biển vàng đây rồi anh em ơi… Cá, tôm nặng oằn đáy chớ đâu mắc cạn. Từ cha sanh mẹ đẻ tới giờ, tui chưa thấy nơi đâu nhiều cá như nơi này…”. Mẻ đáy đầu tiên ở cửa biển Cái Đôi Vàm nặng khẳm thuyền. Cũng từ đó, mấy mươi ngư phủ neo thuyền cắm đất lập làng cá làm nghề đóng đáy hàng khơi. Những năm 70, 80 của thế kỷ trước, thị trấn Cái Đôi Vàm chưa nhộn nhịp, trù phú như bây giờ, chỉ vẻn vẹn vài chục nóc nhà lác đác. Thị trấn cũng chỉ là cái chấm xanh xa mờ chạy dài ven sông, rậm rạp chen chúc đước, mắm. Chưa có tên gọi Làng Cá, chỉ khi những ngư dân từ Vĩnh Long, Bến Tre di cư qua miệt Cái Đôi, mang theo nghề biển làm đáy hàng khơi, ghe cào, Làng Cá mới bắt đầu hình thành và trở thành nghề truyền thống của bà con Cái Đôi Vàm.
“Ngày ấy cá tôm ở Vàm Cái Đôi biết bao nhiêu mà nói. Chỉ cần nơi nào có nước là nơi đó có cá. Ra khơi, chỉ cần một giã cào là đầy ghe. Sơ chế tôm cá từ 9 giờ tối hôm nay đến 9 giờ sáng hôm sau mới hết. Một chuyến ghe cả chục tấn tôm cá là chuyện thường. Cá đóng lưới nhiều quá phải gọi thuyền bạn đến chuyển giúp. Về bến, số cá nhờ chở giúp được chia đôi mỗi bên một nửa. Cái luật người đi biển từ xưa vẫn thế, giúp nhau là lẽ thường tình. Đi biển trúng quên hết mệt nhọc, dù sóng gió bất thường cũng không biết sợ. Sống giữa rừng vàng biển bạc được biển rừng cưu mang, tụi tui coi cửa biển này đâu chỉ là quê hương mà còn là ân nhân của mình nữa”, ông Tư Minh bồi hồi nhớ lại.
BÁM BIỂN LÀM GIÀU  
    Tham gia lực lượng vũ trang bảo vệ bờ biển ngay từ những ngày đầu định cư tại cửa biển Cái Đôi, chàng trai trẻ Lưu Văn Minh nhanh chóng trở thành một trong những tấm gương lao động sản xuất giỏi được ngư dân tin yêu và là đảng viên đầu tiên của Làng Cá - người đảng viên với trái tim nhiệt huyết vừa hăng hái tham gia các hoạt động xã hội ở địa phương vừa cùng anh em ngư phủ dong thuyền ra khơi tìm luồng cá mới. “Biển cho ta cá như lòng mẹ”(*) nhưng nghề biển cũng bạc và khắc nghiệt. Cơn bão Linda năm 1997 quét qua Cà Mau và để lại Làng Cá gần trăm ngôi mộ mới… Làng chài ven chân sóng ảm đạm. Không để chuyện sinh nghề tử nghiệp hay sự cuồng nộ của thiên nhiên phá nát Làng Cá, ông Tư Minh xin chính quyền cho thành lập Hợp tác xã Quyết Thắng do ông làm Chủ nhiệm kiêm Chủ tịch Công đoàn, phục hồi hậu quả bão Linda, tập hợp ngư phủ, sửa chữa đóng mới tàu thuyền tiếp tục vươn khơi. Với sự hỗ trợ nhiều mặt của ngành thủy sản, sự trợ giúp của các trang thiết bị đánh bắt hiện đại, phương tiện tốt và chắc chắn, việc khai thác thủy sản bắt đầu thuận lợi. Hợp tác xã Quyết Thắng nhanh chóng phục hồi sức sản xuất Làng Cá. Nỗi đau năm 1997 nằm lại, trên bến những đoàn tàu no cá cập bờ trong niềm vui òa vỡ của ngư dân, Hợp tác xã Quyết Thắng hoàn thành xuất sắc sứ mệnh của mình.    Với ngư dân, mỗi chuyến đi biển là một hành trình gian khổ, chưa kể những hiểm nguy ngoài đại dương luôn rình rập, đe dọa sinh mạng của họ. Ngay chính ông đã từng đối mặt với cái chết trong tấc gang khi giông gió đùng đùng nổi lên. Chòi canh đáy cất trên cột nọc bị gió vặn chéo, quật ngã. Ông và 4 ngư phủ bị hất xuống biển. Rất may, ông chưa có “duyên” để “chầu thủy thần”. Lần ấy, ông chỉ gởi tạm biển khơi làn máu tươi và ghi dấu một vết sẹo dài từ cổ lên má. Với ngư phủ, tàu là nhà, biển là quê hương, đất liền là bến trọ. Ông không nhớ mình đã bao lần vượt sóng ra khơi, nhưng có một điều ông biết rất rõ: Đó là mỗi lần rời bến, ông cũng như hàng trăm ngư phủ ở nơi này đã đánh cược đời mình trước muôn vàn hiểm nguy ở đại dương.    Người ta gọi ông là “Ngư phủ bất bại” khi mỗi năm ông thực hiện khoảng 12 chuyến ra khơi đóng đáy và đi ghe cào, chuyến nào cũng trúng lớn. Trung bình mỗi phương tiện đạt sản lượng: Tôm 800 - 900kg, ghẹ khoảng 1 tấn, khô mực 200 - 300 kg, cá các loại từ 1 đến 1,5 tấn và cá phân từ 1 đến 1,5 tấn. Trị giá sản phẩm thu được khoảng 80 triệu đồng. Trừ chi phí, mỗi chuyến gia đình ông lãi từ 12 - 18 triệu đồng, tính chung lãi 250 triệu đồng/năm. “Biển vàng” đã cho ông cơ ngơi vững chắc, là chủ vựa cá lớn nhất Cái Đôi Vàm. Ông đã tạo công ăn việc làm cho hơn 40 ngư phủ để họ có thu nhập ổn định từ 3 đến 4 triệu đồng/tháng.
NẶNG LÒNG VỚI QUÊ HƯƠNG  
    Khi tuổi đã cao không thể cầm lái ra khơi, nghề biển giao lại cho 3 con trai, các anh: Lưu Sơn Hoàng, Lưu Minh Sơn và Lưu Mạnh Tuấn. Ông và vợ ở nhà làm dịch vụ hậu cần, tiếp tế nguyên nhiên liệu cho tàu ngoài khơi và quản lý bãi phơi cùng các gian hàng bán cá. 5 đời duyên nghiệp bám biển cha truyền con nối, trong tiềm thức của ông Tư Minh, mùi mặn chát của biển cũng quen thuộc như mùi oi nồng của đất mỗi lúc đi xa. Ông nhớ biển cồn cào, bức bối không chịu được. Mỗi lần nhắc đến biển, ông lại say sưa kể về những “ngón nghề” đánh lưới, giăng câu sao cho hiệu quả, cách dùng mồi, “cương, nhu” thế nào khi giật cá...    Trong giới đi biển, mỗi người có một hoàn cảnh khác nhau. Có người đến với nghề này vì mưu sinh, có người vì duyên nghiệp cha truyền con nối, nhưng họ đều xem biển là nguồn sống. Đời người đi biển cực nhọc, sống giữa bốn bề mênh mông sóng biển, nhưng thu nhập bấp bênh. Ở đây, nhiều đứa trẻ 13-14 tuổi đã phải bỏ học để theo tàu đi đánh cá. Mỗi lần tàu thuyền ra khơi, cả làng vắng hiu hắt. Ngư phủ đâu chỉ đối mặt với bão trời mà còn phải chống chọi với bão giá. Mỗi chuyến biển đi chừng 13-15 ngày, nếu “biển no” ngư phủ “đi bạn” (làm thuê) được chủ ghe chia cho 2-3 triệu đồng; còn nếu “biển đói”, giá xăng dầu tăng, giá cá rớt, nhiều khi vài tháng, anh em đi bạn mới kiếm được 1 triệu, có lắm chuyến đi về trắng tay, chủ ghe phải bù lỗ. Có khi tàu đánh cá của ngư dân bị tàu các nước khác cậy đông xua nhau tranh cá ngay trên hải phận  Việt Nam.     Cửa biển Cái Đôi Vàm vốn nổi tiếng có luồng cá khoai ngon nhất nước nhưng làng nghề không có thương hiệu. Khô khoai Cái Đôi Vàm đi muôn nơi nhưng “mượn” tên khô khoai Trà Vinh, khô khoai Bến Tre, Sông Đốc… Nặng lòng với quê hương, với giọt mồ hôi của ngư phủ, một lần nữa ông Tư Minh đứng lên lập Hợp tác xã Tân Hưng Phát (năm 2011), liên kết 11 chủ ghe biển, vựa cá ở Cái Đôi, chế biến các sản phẩm thủy sản mang thương hiệu quê hương mình, giúp nâng cao thu nhập cho hàng trăm ngư phủ. Anh Đặng Ngọc Tuấn, từng là tài công của ông Lưu Văn Minh, bộc bạch: “Tui theo nghề biển này từ năm mười hai tuổi. Cực quá, bỏ biển, hai vợ chồng chuyển sang làm muối. Rồi muối rớt giá, vợ con tui bữa đói bữa no, sắp nhỏ có nguy cơ bỏ học. Chú Tư biểu tui làm tài công cho chú. Được vài năm chú giúp vốn cho vợ chồng tui mua ghe đi cào. Giờ khá lên nhiều, đi biển cũng trúng. Nhờ ơn chú Tư mà gia đình tui có được ngày hôm nay...”.
Và cũng chính ông với vai trò là Phó Chủ tịch Ủy ban MTTQVN thị trấn Cái Đôi Vàm, Hội trưởng Hội Phụ huynh Trường THCS Lê Hồng Phong, đã giúp hàng chục trẻ em bỏ học trở lại trường, xóa bỏ ám ảnh Làng Cá là điểm trắng giáo dục. Đồng thời ông vận động ngư dân tự nguyện ký cam kết với Biên phòng sẵn sàng tham gia bảo vệ các vùng biển, đảo khi cần thiết. “Ngư dân ra khơi bám biển làm ăn, mối gắn kết đầu tiên với đất liền là Bộ đội Biên phòng. Các chiến sĩ Biên phòng với bà con nơi đây gần gũi, thân thiết như người trong gia đình, từ việc sửa chữa, trú tránh bão đến việc giá cá lên cao hay xuống thấp… Vì vậy, chúng tôi luôn động viên bà con thường xuyên vươn khơi bám biển, vừa xây dựng kinh tế gia đình vừa tham gia bảo vệ chủ quyền biển đảo thiêng liêng của Tổ quốc”, ông Tư Minh tâm sự.
    Với 4 Bằng khen của UBND tỉnh tuyên dương “Nông dân sản xuất giỏi” và 2 lần được tuyên dương là điển hình “Học tập làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, ông Lưu Văn Minh vẫn khiêm tốn cho rằng những gì mình làm được cho mọi người, cho quê hương vẫn còn nhỏ bé lắm khi biển quê hương đã cưu mang không biết bao nhiêu thế hệ ngư dân nơi này. Với ông biển chính là nhà, biển là cuộc sống.
    Mái tóc trổ bạc, khuôn mặt nâu sạm nhuốm nắng gió biển khơi, ông đứng trên bến cá đón những chuyến tàu. Ngư phủ nụ cười tỏa nắng mở khoang tàu no cá. Cá tràn bến lấp lánh trắng. Các mẹ, các chị trĩu nặng vai gánh cá. Nắng miền Tây sóng sánh đổ mật nhuộm vàng những tay lưới đang tung lên loang loáng. Ngoài khơi những đợt sóng bạc dồn đuổi nhau tung lên rặng đước xanh thẳm. Trong đôi mắt già nua của lão ngư phủ tuổi gần thất thập ấy bỗng ánh lên ánh sáng của niềm tin về tương lai trù phú của Làng Cá.
NGUYỄN THỊ VIỆT HÀ
(*) Một câu trong bài thơ “Đoàn thuyền đánh cá” của nhà thơ Huy Cận.


 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét