(Kính viếng hương hồn bà)
Khi tôi viết những dòng này thì bà tôi đã về nơi chín suối, nơi có ông tôi, mẹ tôi đứng đợi sẵn ở cổng thiên đường.
Tôi không rõ có thiên đường không, hay đó là sản phẩm của trí tưởng
tượng con người nhưng tôi tin những người hiền hậu, cả đời chỉ biết hy
sinh và chấp nhận mọi cay đắng về mình như bà sẽ có một
chốn yên lành ở một thế giới khác cái thế giới bụi bặm, bon chen, xô
bồ mà chúng ta đang sống. Bà đi nhẹ…Giống như cách bà sống. Như một cơn
gió. Bà bảo rằng bà đi gặp ông thế là bà đi, chẳng đau
đớn, vật vã gì cũng chẳng phiền luỵ đến cháu con. Ở khoảng cách gần
2500km từ Cà Mau đến Bắc Giang theo khói hương tôi tiễn bà ra đồng một
đoạn đường xa.
Mẹ tôi lớn nhất, sau mẹ còn bảy cậu dì nữa. Đồng chiêm trũng, làng
nghèo xơ xác, ông mất sớm thế mà cơm rau, cháo trắng bà nuôi tám con
tươi da thắm thịt, có sự nghiệp riêng. Các cậu, dì đều ở
quanh bà, chỉ mình mẹ theo chồng về tận miền Nam. Hạnh phúc mảnh như
sợi tơ nhện, mưa chẳng lớn, gió chẳng to cũng đủ bứt khỏi mối ràng buộc
vợ chồng khỏi cuộc đời mẹ. Buồn tủi, mẹ đưa ba chị em
chúng tôi về quê ở với bà. Mẹ lặn lội chợ xa theo những chuyến buôn từ
biên giới. Mấy chị em núp trong chiếc áo nâu ám mùi khói bếp, theo bước
chân người đàn bà Giao Chỉ bàn chân năm ngón trạng ra
rời rạc bám đất quê mà lớn lên.
Đồng mùa thất kém, cả làng Dục Quang phải sang làng Thượng xếp hàng
mua bã đậu ăn thay cơm. Nhà bà cũng chẳng khá khẩm gì hơn, các cậu, các
dì lót bụng bằng bã đậu xào với ít mỡ lợn có rắc thêm ít
hành hoa hoặc bà nén thành bánh có pha thêm tí muối, mì chính hấp lên.
Chỉ có chúng tôi được ăn cháo khoai tây, khoai lang, thỉnh thoảng được
ăn cháo trắng với ít con cá mắm mẹ mua về. Đến bữa thấy
bà và mẹ ăn rau khoai, rau má luộc tôi ngơ ngác hỏi sao mọi người
không cùng ăn cháo, bà cười: “Ăn rau cho nhuận tràng, mát ruột con ạ…”.
Tuổi lên năm, lên ba, tôi tin ăn rau thay cơm cho mát ruột
chứ chưa nghĩ được rằng bà và mẹ nhường cháo cho mình nên hồn nhiên xì
xụp húp cháo mặt mũi đỏ bừng vì cháo nóng. Bà cầm quạt mo vừa quạt cho
cháu vừa quạt nồi nước chè xanh cho mau nguội để đổ vào
bi đông cho ba đứa mang đi học khi khát có cái mà uống. Bà cười, nụ
cười thơi thới, thanh thản khi cầm bình bi đông nhét vào cặp cho cháu
còn thêm túm ngô rang ăn vặt.
Quanh đi quẩn lại bà nấu chỉ vài món ăn: canh rau, canh khoai, rau
xào, cá kho, tôm rim… thỉnh thoảng có ít thịt kho nhưng món nào bà nấu
cũng đều ngon và có hương vị riêng. Thích nhất là món cá
bống kho dưa vào mùa đông. Cá bống do các cậu đi đánh dậm mà có. Bà
làm sạch cá, trộn với dưa cải muối, ít gừng nêm thêm ít gia vị cho vào
nồi đất rồi bà vùi xuống bếp tro, nồng rơm trên nóc vung
rồi để yên cho đến khi dọn cơm thì bới rơm ra. Cá bà kho quyện dưa
thơm phức, ăn đến đâu xuýt xoa đến đó, vét đến hạt cơm cuối cùng trong
nồi mà vẫn còn thèm. Mùa đông còn là mùa táo, mùa bưởi, cả
cơ thể bà như được ướp hương táo chín, hoa bưởi thơm. Bà hái táo bỏ
vào rổ tre, nhặt ra những quả to nhất cho các cháu rồi bao nhiêu đem ra
chợ bán. Một ít quả bị chim ăn dở bà bảo nhìn xấu xấu thế
thôi chứ những quả này rất ngọt. Bọn trẻ chúng tôi xúm vào bốc ăn rồi
chẳng thèm những quả táo to căng bóng kia nữa vì quả táo chim ăn ngọt
hơn mấy quả lành lặn. Bà hay nhặt hoa bưởi rụng bỏ vào
nồi nước có thêm mấy lá sả, bồ kết nướng, ít hương nhu, cỏ mần trầu
nấu lên gội đầu cho cháu. Tay bà vò đầu rồi theo gáo nước xoa khắp cơ
thể, tay bà ram ráp những vết chai, bà còn trêu bà đang đếm
xương sườn của cháu gái xem cần bao nhiêu gạo thóc nữa mới phổng phao.
Tóc tôi dài và mượt đến tận bây giờ chẳng phải do các loại dưỡng chất
từ dầu gội, dầu xả danh tiếng trên ti vi người ta vẫn
quảng cáo mà nhờ vào những nồi nước lá ngày ấy của bà. Tối lạnh, mẹ
vắng nhà, rúc vào lòng bà nghe hương rơm rạ lẫn với hương hoa bưởi,
hương táo chín ba đứa trẻ ngủ ngoan lành. Trong giấc mơ chúng
tôi có đôi cánh thần tiên bay trên cánh đồng xanh mướt lúa ngô như
trải dài đến tận chân trời, triền đê rộn ràng trẻ chăn trâu thả sáo
diều.
Tháng Chạp, thấp thoáng tết, bà tẩn mẩn săm soi mấy cái áo váy cũ xin
được của người bà con tên phố xem hàng nút, chỗ sứt chỉ, kết mấy bông
hoa vải, sửa lại cho vừa vặn, giặt thơm tho ướm vào người
tôi và em gái bảo: “ Cũ người mới ta, cháu bà đẹp mặc cái chi chẳng
đẹp…”. Bà bảo xoay đi xoay lại để bà xem rồi tấm tắc khen cháu của bà
giống công chúa trong truyện cổ tích khiến chúng tôi bỗng
cảm thấy mình trở nên lộng lẫy vô cùng. Giữa mùa thu bà đem áo rét cũ
ra xem chỗ nào còn vá víu, cái nào ngắn cho đứa bé, đứa lớn thì mặc áo
bông của bà… Gió mùa đông bắc vun vút tím tái da thịt
thế mà chỉ cần được bà ủ vào lòng chị em tôi đã đủ ấm. Nồi cháo hoa đã
sẵn bà bảo húp đi cho ấm lòng, mắt bà âu yếm nhìn ba đứa cháu cút côi
ánh lên nụ cười khi mỗi năm mỗi đứa cao hơn cả gang tay.
Ngước nhìn bà, lúc ấy tôi mới để ý bà mặc mãi chiếc áo bông nâu không
biết có bao nhiêu mảnh vá, gương mặt bà sạm đen, tóc trắng hết cả đầu từ
dạo nào. Mắt cay cay, tôi đưa bát cháo mời bà ăn cho
cháu vui lòng, cháu no rồi, mùa đông lạnh bà đừng ăn rau mãi vì có
phải mùa hè đâu mà cần mát ruột…
Trong số mấy mươi con cháu nội ngoại, bà yêu thương ba chị em tôi
nhất, có lẽ vì chúng tôi bị cha bỏ rơi từ nhỏ. Bà dạy cháu con không
bằng roi vọt mà bằng ca dao tục ngữ, bằng lòng tin chân lý “ở
hiền gặp lành”, thế giới những người đã khuất, bà tin có thiên đàng và
địa ngục, tin “ trời có mắt”…. Những ngày rằm theo bà đến chùa ngồi lậy
phật chờ đón miếng oản be bé mà tin đó là lộc phật,
mấy chị em dành một phần cho mẹ để mẹ ăn cho bớt khổ vì trong miếng
oản tí ti ấy có ước muốn cha tôi trở về với bốn mẹ con, trời có mắt hẳn
sẽ nhìn thấy mẹ còng lưng đạp xe gió ngược buôn chuyến
đường xa kiếm tiền nuôi chúng tôi ăn học, trời sẽ thương mà đánh động
cha tôi tan u mê biết lối tìm về. Bà nghe cháu khấn lấy khăn lau mắt,
dắt cháu về đêm hè trời trong, đường xa hoá gần theo câu
chuyện kể Tống Trân – Cúc Hoa. Tôi cứ thắc mắc trong lòng không hiểu
sao bà tôi thực gốc dân rơm rạ, nửa chữ không biết nhưng bà thuộc mấy
trăm câu tục ngữ, truyện cổ tích, truyện Nôm khuyết danh
và thuộc cả Truyện Kiều không sai đến một chữ. Mẹ đi buôn chuyến dài
ngày, nhớ mẹ em trai tôi khóc hờn, bà chải chiếu ra sân hóng mát, xoa
lưng ba đứa cháu kể chuyện cổ tích, lụm cụm bắt đom đóm bỏ
vào vỏ trứng gà làm đèn lồng chơi trăng dù chẳng phải trung thu. Em
trai tôi thôi khóc, tôi và em gái thôi than thở nhớ nhung mẹ, ngủ say
trong lòng bà. Sau này lớn lên, thành cô giáo, được đi đến
nhiều nơi tôi mới hiểu bà là hiện thân của làng Dục Quang được bao bọc
luỹ tre xanh, đầu làng có ngôi đình cổ, cuối làng có gốc gạo trăm tuổi,
bà là đồng đất rơm rạ bao dung ăm ắp yêu thương nên tự
tích luỹ kinh nghiệm dân gian dậy con, dạy cháu để tuổi thơ tôi ngấm
tình yêu ấy của bà rồi đam mê viết văn, dạy văn như thể được di truyền.
Trong khốn khó, thỉnh thoảng bà vẫn nhín tiền chợ, gạo thóc để làm
bánh. Rất nhiều món bánh quê ngày ấy còn đọng lại trong trí nhớ của tôi
mà bây giờ ở miền Tây tôi sống chẳng thấy người ta bán.
Bánh đúc pha với lạc chấm mắm tôm hoặc chan canh cua đồng, bánh giò
nhân mộc nhĩ thịt ba chỉ, bánh nếp… nhưng tôi thích nhất là bánh khúc.
Chừng khoảng tháng Giêng, tháng Hai rau khúc mọc đầy đồng
những bụi sát đất lúm xúp màu xanh ngai ngái phủ một lớp lông mịn phấn
bạc. Rau khúc xay ra trộn với bột nép, nhân đậu xanh vàng lịm cho bánh
ngọt; nhân mộc nhĩ, hành hoa, hạt tiêu, thịt ba chỉ cho
bánh mặn… Bánh khúc bà làm có mùi thơm ngậm ngùi như mùi nước mắt, mùi
hắc ngọt của lúa khoai ngoài đồng, có vị ngọt của gạo đầu mùa, có cả vị
tê tái những ngày giáp hạt. Bà cầm đôi bánh thắp hương
ông, bà khấn vái có vần có điệu ngân nga như hát chèo. Cầm miếng bánh
khúc màu xanh nguyên thuỷ mấy chị em ăn dè sợ mau hết, ba chị em nhìn
nhau cười khúc khích khoe những chiếc răng dính bánh xanh
xanh. Bà sẩy lạc lép gần đấy ngưng tay nhìn ra phía cánh đồng xa nơi
ngô đang kì mẩy hạt ông tôi nằm bình yên giữa thửa ruộng xanh non.
Năm 1992, mẹ dắt ba con đi vùng kinh tế mới. Bà gạt nước mắt tiễn con,
tiễn cháu. Dốc chiếc ruột tượng ấm hơi, ẩm mồ hôi quanh người lấy ra
những cuộn tiền nhỏ mà các cậu, dì biếu mỗi dịp lễ tết
cho ba cháu. Bà ra tận đầu đường, nơi xe ô tô chờ cả đoàn người bỏ quê
tìm rừng lập nghiệp. Xe chạy, chúng tôi ngoái lại mãi thấy bà thấm nước
mắt bằng vạt áo nâu cũ sờn…
Những ngày tha hương, mấy mẹ con chân mòn lối lên núi đồi, bốn tấm
thân bé nhỏ đại ngàn như muốn nuốt chửng, mồ hôi, nước mắt mưa rừng trộn
vào nhau, cơ cực không biết bao nhiêu mà kể. Nhưng chúng
tôi vẫn đến trường học giỏi giang, ngoan lành, hiền thảo. Trên đỉnh
đồi Bảy Tầng tận Lâm Đồng mấy mẹ con ngồi nghỉ ăn nắm cơm nhìn về phương
Bắc, mẹ nén tiếng thở dài, còn ba chúng tôi không dám
hỏi mẹ giờ này bà đang làm gì. Chỉ thỏ thẻ xin mẹ chuyến sọt mới này
mẹ con mình ăn khoai sắn cũng được để chừa ít đồng mua cho bà tấm áo
mới… Mẹ quệt mồ hôi, đôi mắt rất đẹp của mẹ long lanh ngập
nước, mẹ phạt đám dây mây mù mịt mở lối đường tắt về nhà, tranh thủ
hái đám rau tầu bay non nhớt về xào ăn cơm. Mẹ kể ngày đi bộ đội thứ rau
này cưu mang đồng đội của mẹ qua những ngày thóc cao gạo
kém lương thực chưa kịp tiếp tế…
Mẹ tôi đau nặng bà đón mẹ về chăm sóc như thuở còn thơ bé. Bà hơn 80
tuổi chăm sóc con gái chưa đầy tuổi 50 như người ta chăm em bé. Bà thay
áo quần, xoa lưng mẹ ngủ để quên cơn đau khủng khiếp của
bệnh ung thư. Bà nắn đôi bàn tay bị cây rừng mấy bận xuyên qua cong
queo, tàn tật như thể để những ngón không lành lặn kia trở lại những
ngón thuôn dài như khi mẹ còn thiếu nữ… Khi còn trẻ, mẹ đẹp
nhất làng. Con gái đẹp ít ai được sống hạnh phúc, bà bảo thế. Mẹ đi,
mùa đông tê tái, bà rắc giấy vàng bạc gió tung khắp trời, bà không khóc
nhưng tiếng hát chèo của bà kinh động trời xanh, trời
hanh lạnh bỗng đổ mưa. Đám ma mẹ tôi đông lắm, cả làng đưa tiễn, đường
ra đồng khấp khểnh ổ trâu, bà bảo các cậu nương nhẹ xe tang cho bà nhờ,
con gái của bà cả đời khổ hạnh thì lúc nhắm mắt hãy để
mẹ được đi đoạn đường êm… Bà ấp ba đứa cháu cút côi vào lòng, gió đồng
hiu hắt, cánh đồng làng ẩm ướt mưa đông, bà bảo đừng khóc để mẹ không
vướng bận. Mẹ đi sớm biết đâu sướng hơn trần gian mẹ ở.
Cái trần gian toàn quỷ thần đầy đoạ thân mẹ…Đôi bánh khúc cúng bà làm
bỗng nhiên gắt nồng, đắng ê hề… Đắng như lòng bà tiễn đứa con gái bà quý
yêu nhất rời bỏ bà khi tóc hãy còn xanh. Mẹ nằm cạnh
ông, cánh đồng bên dòng sông, con dộc dài mọc đầy rau khúc vào tháng
Giêng, Hai…
Ba đứa chúng tôi không ở cùng bà, lưu lạc mãi Cà Mau, vài năm mới về
thăm bà, thăm mẹ một lần. Người đàn bà Giao Chỉ có đôi bàn chân choãi ra
giờ chân chậm run rẩy chẳng đi đồng nữa ở nhà chăm bầy
cháu chắt, con của cậu út, chăm thêm con gà, con lợn, chăm cây táo
kiếm đồng quà tấm bánh. Bà chẳng chịu ngơi tay, chẳng chịu ở yên hưởng
sự chăm sóc báo hiếu của đàn con bảy đứa đã công thành danh
toại. Chúng tôi lớn, cao hơn bà nhưng mỗi lần về vẫn muốn mình nhỏ
lại, cong lưng núp vào lòng bà, để bà xoa lưng ru ngủ. Bà nghe ai nói
tôi thành nhà thơ, nhà văn, bà mừng bảo tôi đọc bà nghe tôi
viết những gì… Giải thích mãi rằng tôi chỉ là cô giáo nhỏ dạy văn của
bà thôi, có đôi bài thơ chẳng thành thơ, đôi câu chuyện chẳng ra truyện
nhưng vẫn thỏ thẻ đọc bà nghe… Hốc mắt khô của bà bỗng
dưng trào tuôn, những giọt hiếm hoi có lẽ rỉ từ tim khi nghe tôi đọc
những bài thơ về mẹ, về chiếc ruột tượng đẫm mồ hôi bà vẫn quấn ngang
người…
Khi bà gần 90 tuổi, bà vẫn tinh anh, minh mẫn chứ không lú lẫn như
những người già ở thế hệ bà. Tiếng hát chèo vẫn luyến láy ngân nga, vẫn
dạy cháu chắt bằng ca dao, tục ngữ, hò chèo, vẫn dành cho
ba đứa cháu xa vừa tròn một vòng đất nước một tình cảm đặc biệt trong
số mấy mươi cháu chắt vì “ Chúng nó mồ côi, mồ cút…”. Thi thoảng gọi
điện thoại bà vẫn rổn rảng: “ Hà ởi, tết này vợ chồng con
cái ba đứa chúng mày bảo nhau về Bắc Giang bà nấu bánh đúc, bánh khúc
cho mà ăn…”.
Chúng tôi đã định tết này…
Nhưng bà đi, sau một cơn gió. Nhẹ. Nhanh. Thanh thản. Tôi gục xuống
bàn phím đang dở dang một truyện ngắn cho một tờ báo… Tôi muốn vùng chạy
băng qua 2500km kia về với bà, về với căn nhà cổ có tứ
đại đồng đường hiếu thuận từ trên xuống dưới, về với cánh đồng trơ gốc
rạ, nồi cá bống rim dưa quấn rơm chín rục, về để phủ phục xuống chân bà
hôn lên đôi bàn chân Giao Chỉ… Lối bà đi xanh ngần lúa
khoai, thơm hương rơm rạ và cả mùi táo chín… Đêm chập chờn mộng mị,
tôi theo đoàn người tiễn bà ra đồng, đoàn âm binh vừa ló mặt đã bị giông
cuốn đi, rợp trời hoa bưởi bay, chân lót mềm rau khúc…
Mẹ tôi đứng kế bên ông áo dài khăn vấn đón bà…xung quanh gò đống tổ
tiên vàng rắc bay kín đồng.
Đường ra đồng hun hút sâu… Tôi hớt hải cầm tấm áo lụa Hà Đông chạy
theo đưa bà nhưng chạy mãi… chạy mãi mà không với tới để đưa tấm áo mới
đến được tay bà…
Cà Mau, tháng 4 năm 2012
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét